CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI NGÔI NHÀ ONLINE CỦA THÀNH CÔNG

Ngọn nến ấm áp sẽ được thắp lên để sưởi ấm cho căn phòng...

KHOẢNH KHẮC ẤY RỒI CŨNG QUA MAU

Niên khóa 2010 - 2015.

NHẬT KÝ NGÀY THÁNG NĂM

22h TỐI HẰNG NGÀY CÙNG NHAU ĐÓN ĐỌC NHẬT KÝ CÁ NHÂN NHÉ! :).

DU LỊCH VÀ GÓC ĂN UỐNG

Nơi ra đời của những tấm ảnh, video ghi lại khoảnh khắc du ngoạn bốn phương và những món ăn bản thân có thể làm.

NGÔI NHÀ MƠ MỘNG

Một bên là biển một bên là thành phố...

Jon Bin

Jon Bin
Ảnh cá nhân

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Bài học marketing từ Running Man, Bà Tưng

Những hình ảnh tiêu cực về Bà Tưng chính là điểm mạnh thương mại của hiện tượng mạng này. Tương tự, sự khờ khạo tạo nên nét đáng yêu và hấp dẫn của thương hiệu Running Man.

Nhận xét về việc thương mại hóa hình ảnh Bà Tưng, ông Nguyễn Tấn Đạt, Giám đốc Công ty truyền thông NEO so sánh những điểm tiêu cực của hiện tượng mạng này như đôi chân khẳng khiu của con hươu. Khi trốn chạy kẻ thù như hổ, báo…, đôi chân chính là vũ khí lợi hại dù trông nó không đẹp. Sự nổi tiếng với hình ảnh tiêu cực của Bà Tưng cũng tương tự, nếu sử dụng phù hợp, nó sẽ là vũ khí lợi hại cho việc thu hút sự chú ý của công chúng.
Chuyên gia này bình luận, một số hình ảnh “thuần khiết” của Bà Tưng tương tự như bộ sừng hươu, nó tuyệt đẹp nhưng chỉ dùng khi vui vẻ bởi khi gặp kẻ thù cần trốn chạy, sừng sẽ vướng víu và trở thành điểm yếu. Lúc cần đem ra quảng bá, những hình ảnh tai tiếng của Bà Tưng mới là cái cần khai thác.
Bà Tưng mặc áo dài
Trên thực tế, những bộ ảnh Bà Tưng mặc áo dài, hoặc không “thả rông” vẫn thu hút được sự chú ý cao của công chúng khi được tung ra. Tuy nhiên, khả năng lấy hình ảnh đó để quảng bá cho một nhãn hàng hay thương hiệu gắn liền với hình ảnh trong sáng là điều không khả thi bởi rất ít người tin rằng Bà Tưng có thể là đại diện phù hợp.
Ông Phạm Minh Toàn, Chủ tịch Times Universal – một công ty chuyên về marketing online chia sẻ: Bất cứ một hiện tượng mạng nào được nhiều người quan tâm đều có khả năng khai thác thương mại nhưng vấn đề là kiểm soát điều đó ra sao. Trên thế giới các trang web sex hoặc các tạp chí khiêu dâm cũng có nhiều sản phẩm, dịch vụ muốn quảng cáo; và các hiện tượng mạng không phải là ngoại lệ.
Mới đây nhất, khi Bà Tưng đóng cửa tài khoản Facebook của mình và tuyên bố sẽ không quay clip sexy nữa thì khả năng cô gái này sẽ hot trở lại bằng cách gì là một dấu hỏi lớn. Cũng theo đó, việc các thương hiệu sẽ khai thác Bà Tưng ra sao khi cô này không còn gây sốc bằng “thả rông” vòng một hoặc nhảy múa gợi cảm… là một bài toán khó. Đây là chưa kể đến việc khi gắn với Bà Tưng, nhiều cơ quan quản lý cũng để ý gắt gao thì những ngành nghề nhạy cảm như game hay kinh doanh quán bar sẽ phải cân nhắc kỹ hơn trước rất nhiều.
Trong khi đó, với Running Man – Vũ Xuân Tiến, khi chuyến đi Anh, tới sân Emirates xem Arsenal thi đấu kết thúc vài ngày thì độ hot của cậu cũng giảm dần. Chàng Running Man đang “trở về mặt đất” với cuộc sống thường ngày của mình. Cơ hội khai thác tiếp theo của các thương hiệu với Vũ Xuân Tiến cũng trở nên khó hơn dù khi đăng tải Running Man vẫn là một từ khóa rất hot, thu hút bạn đọc cao.
Trao đổi với phóng viên, một đại diện trong nhóm marketing của tập đoàn Tân Hiệp Phát (người liên hệ với Vũ Xuân Tiến) cho biết, đơn vị này cũng tính toán và hiểu rõ cơ hội quảng bá tốt nhất là trước, trong và ngay sau khi Running Man đi Anh. Tuy nhiên, vì một số lý do mà thương hiệu nước uống vận động Active không kịp tổ chức bất cứ một hoạt động nào gắn với Running Man trong khoảng “thời gian vàng” này. “Tuy nhiên, chúng tôi đã có những kế hoạch tiếp theo và đang tích cực triển khai”, ông này tiết lộ.
Trong khi đó, thương hiệu thời trang Viva từ chối cho biết thêm các kế hoạch tiếp theo với Running Man. “Trước khi các công việc chuẩn bị hoàn tất thì chúng tôi không thể nói được điều gì. Kinh nghiệm của người bị ‘ném đá’ do tuyên bố trước việc chưa làm là bài học nhãn tiền. Thêm vào đó, về mặt tổ chức, những kế hoạch cần được bảo mật chứ không phải công bố rùm beng”, đại diện Viva nói.
Bình luận về khả năng tiếp tục khai thác thương hiệu Running Man, ông Nguyễn Tấn Đạt – Giám đốc Công ty truyền thông NEO nhận xét, với một hiện tượng mạng có hiệu ứng tức thời thì khả năng khai thác nhanh, chuyên nghiệp là quan trọng nhất. Nếu “hớt váng” được trong giai đoạn đầu, thương hiệu gắn với Running Man sẽ thu hiệu quả cao. Còn về sau, các thương hiệu cần phải có những chiến dịch công phu hơn.
Running Man - Vũ Xuân Tiến
Chuyên gia về truyền thông này cho rằng, hình ảnh “thánh cuồng” của Vũ Xuân Tiến sẽ phù hợp với những thương hiệu hơi phá cách, trẻ và tràn đầy đam mê; và nếu có kế hoạch tốt thì Running Man vẫn có thể tạo ra những cơ hội tiếp theo.
Nhìn lại câu chuyện của Vũ Xuân Tiến, ông Lương Hoài Nam – cựu CEO Air Mekong viết trên trang cá nhân: “Câu chuyện của ‘The Running Man’ cho thấy một điều: Bạn là ai, giá trị của bạn thế nào phụ thuộc vào việc bạn gây được sự quan tâm của ai, bạn ‘bán’ được bạn cho ai? Sự quan tâm của ‘Người mua’ tạo ra giá trị cho bạn; giá trị của họ quyết định giá trị của bạn.
Nhiều khi, điều này không tính trước được, mà là duyên số, may rủi. Nhưng ít ra, trong chừng mực bạn có thể lựa chọn và quyết định, đừng chạy theo những gì có ít uy tín, giá trị. Nếu đó không phải là Arsenal mà là một đội bóng Việt Nam nào đó thì bạn Tiến chỉ là một chàng trai gàn, thậm chí hành động chạy theo của bạn Tiến còn bị ‘ném đá’ nữa”.
Theo Hoàng Ly
Zing/Tri thức

Làm thương mại điện tử Việt Nam – những khó khăn hiện hữu?

“Những ai đang hi vọng làm TMĐT sẽ thu lời được ngay thì tốt nhất đừng dấn thân vào TMĐT làm gì” – ông Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Khối TMĐT VCCorp.

Thị trường Thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam vẫn chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, do đó khó tránh khỏi những khó khăn và tồn tại gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp làm trong ngành. Để hiểu rõ hơn những khó khăn này của TMĐT Việt Nam, CafeBiz xin trích đăng nội dung bài viết trên trang Facebook cá nhân của ông Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Khối Thương mại Điện tử VCCorp để bạn đọc tham khảo.
khó khăn khi làm TMDT ở Việt Nam
Tại Việt Nam, TMĐT mới bắt đầu nhen nhóm nên tất yếu sẽ gặp khó khăn. Có cả khó khăn nằm trong tầm kiểm soát và ngoài tầm kiểm soát, đến từ bên trong lẫn bên ngoài, từ chủ quan đến khách quan. Để khái quát hoá, người viết chia làm 2 dạng: khó khăn khách quan và khó khăn chủ quan.

I. Khó khăn khách quan

1. Thị phần nhỏ bé
Ở bài đầu tiên Thị phần và các loại hình thương mại điện tử tại Việt Nam, tôi đã nêu chi tiết rằng hiện nay chỉ mới được khoảng hơn 2 triệu khách hàng mua hàng qua TMĐT – con số quá bé so với hơn 35 triệu người dùng Internet và dân số 90 triệu người dân Việt Nam.
Nếu xét về doanh số, tại Việt Nam rất khó thống kê chính xác nhưng ước tính đạt khoảng gần $500 triệu trong năm 2012 (có một số báo cáo và phát biểu nói rằng doanh số 2 tỷ đô, con số này theo tôi là không đáng tin cậy). Đem so với các cường quốc về TMĐT trên thế giới như Mỹ (343 tỷ), Nhật (127 tỷ), Anh (124 tỷ) và Trung Quốc (110 tỷ) thì thị trường TMĐT thật quá nhỏ bé.
Chính vì thị phần bé như vậy, nên khi triển khai mô hình TMĐT cụ thể, việc lựa chọn đối tượng khách hàng khá khó khăn và phải rất thận trọng để đưa ra mô hình phục vụ phù hợp với phân khúc khách hàng mình lựa chọn.
Khi triển khai mô hình TMĐT cụ thể, việc lựa chọn đối tượng khách hàng khá khó khăn và phải rất thận trọng để đưa ra mô hình phục vụ phù hợp.
2. Thói quen mua hàng
Vẫn tâm lý ra cửa hàng tạp hoá đầu ngõ để mua những đồ dùng thiết yếu hay ra các cửa hàng offline để mua sắm các đồ dùng, đồ thời trang và đồ công nghệ.
 – Thói quen thích nhìn tận mắt, sờ tận tay
 – Thói quen thanh toán bằng tiền mặt
thương mại điện tử Việt Nam
3. Niềm tin
Người tiêu dùng tại Việt Nam vẫn chưa đặt niềm tin vào mua sắm trực tuyến, họ vẫn có cái nhìn thiếu thiện cảm với các hình thức kinh doanh trên mạng. Thực tế, có rất nhiều khách hàng phản ánh rằng sản phẩm họ nhận được khác xa với những gì họ nhìn thấy trên website, do vậy niềm tin vào TMĐT cũng bị lung lay.
Nguyên nhân của thực trạng này là do TMĐT đang bị lạm dụng, bóp méo bởi sự làm ăn thiếu chuyên nghiệp của các đơn vị cung cấp sản phẩm. Điển hình như vụ việc MB24 đã lợi dụng danh nghĩa TMĐT để phục vụ lợi ích riêng cho mình khiến cho khách hàng hiểu sai về TMĐT.
Một số khác thì dùng kênh TMĐT để phân phối hàng giả, hàng nhái kém chất lượng nhằm qua mắt người tiêu dùng – một cách làm ăn rất chụp giựt.
4. Hạ tầng thanh toán
 – Thanh toán qua thẻ còn ít
 – Các bước thanh toán qua internet banking rắc rối và không nhất quán giữa các ngân hàng
 – Thẻ chủ yếu dùng để nhận lương và rút tiền tại ATM
 – Chi phí giao dịch cao
 – Hình thức thanh toán chưa đa dạng
 – Cơ chế hoàn tiền còn chậm và chưa rõ ràng
 – Hành lang pháp lý còn lỏng lẻo
5. Dịch vụ giao nhận
 – Chưa có đơn vị thứ 3 thực sự chuyên nghiệp để đảm bảo tốt dịch vụ giao nhận mà không ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ, hầu hết các đơn vị làm TMĐT đều phải tự xây dựng đội ngũ giao nhận để nắm quyền chủ động trong việc kiểm soát và điều phối hiệu quả cũng như chất lượng phục vụ khách hàng.
 – Do đặc thù địa lý Việt Nam trải dài, mặt khác volume thị trường còn bé đồng thời việc tự tổ chức đội ngũ giao nhận khiến cho chi phí giao nhận rất cao, chiếm từ 10-15% giá trị của 1 giao dịch.
6. Vốn đầu tư
Đầu tư vào TMĐT là dài hạn và đốt tiền, thậm chí đốt rất nhiều tiền. Chi phí cho nhân sự, marketing, stock hàng là những chi phí rất lớn. Nếu không có khoản đầu tư lớn thì chỉ đi được nửa đường là chết, khi mà lợi nhuận chưa thể bù đắp cho khoản tiền đầu tư để educate thị trường, để làm brand và hoàn thiện quy trình.
Do vậy bạn nào đang hi vọng làm TMĐT sẽ thu lời được ngay thì tốt nhất đừng dấn thân vào TMĐT làm gì. Theo nguồn tin cá nhân thì tất cả các đơn vị đang đầu tư cho TMĐT tại Việt Nam thì chưa có đơn vị nào có lãi (trừ một số dự án vertical e-commerce), mà ngược lại số tiền đầu tư đã lên đến hàng triệu đô.
làm thương mại điện tử ở Việt Nam

II. Khó khăn chủ quan

1. Khó khăn chung
Xét một cách toàn diện thì các đơn vị làm TMĐT vẫn đang ở tâm lý vừa làm vừa thăm dò thị trường và tìm cách phản ứng để phù hợp với tâm lý người tiêu dùng. Do vậy việc triển khai khó có thể diễn ra bài bản ngày từ đầu và xuyên suốt trong quá trình hoạt động.
Mặt khác, rất nhiều đơn vị làm TMĐT vẫn chưa hiểu rõ thấu đáo sự khác biệt của TMĐT với bán hàng offline truyền thống, vẫn bê nguyên tư duy vận hành offline lên online, dẫn đến sự phản ứng chậm chạp, thiếu chuyên nghiệp và không phát huy hết lợi thế của online, chưa đánh trúng tâm lý của người tiêu dùng online.
Người tiêu dùng online có những hành vi và tâm lý mua hàng khác với người tiêu dùng offline. Người làm TMĐT cần hiểu rõ tâm lý đối tượng khách hàng của mình để có thể đưa ra những phương thức phục vụ phù hợp.
khó khăn khi làm TMDT ở Việt Nam
2. Khó khăn của từng mô hình
a. Mô hình sàn giao dịch
 – Người dùng thường tìm đến các website có nhiều tin để đọc, và ngược lại người bán cũng tìm đến website có nhiều người đọc để đăng tin rao. Do đó, khi thiết lập mới một sàn giao dịch TMĐT, cần phải có được ngay lượng thông tin phong phú để thu hút người đọc, đặc biệt việc làm SEO sẽ giúp cho website có được nguồn traffic tự nhiên cực lớn
 – Giao dịch trên các sàn giao dịch hầu như không có, mà đó chỉ là nơi người bán và người mua gặp nhau, sau đó tự liên lạc và thoả thuận hình thức bán hàng và thanh toán. Vì thế độ tin cậy sẽ không cao.
 – Bài toán kiếm tiền từ mô hình này khá đơn giản, khiến cho việc muốn tăng mạnh doanh số rất khó khăn. Các mô hình tiêu biểu bao gồm: bán banner quảng cáo, bán tin VIP, bán lượt hiển thị các trang đầu
b. Mô hình website bán lẻ
– Khó khăn lớn nhất của mô hình này là kiểm soát hàng tồn kho. Để hàng tồn kho quá lâu và không có sự kiểm soát chặt chẽ và thường xuyên thì tất cả những khoản lãi thu được đều không đủ để bù lỗ cho chi phí hàng tồn kho
– Khó khăn thứ 2 là tạo được sự tin cậy và minh bạch về thông tin hàng hoá, giá cả, để cho tỷ lệ chuyển đổi (CR) phải luôn ở mức cao nhất nhằm tiết kiệm chi phí marketing, nâng cao hiệu quả bán hàng. Theo kinh nghiệm của tôi thì các website TMĐT phải đảm bảo tỷ lệ chuyển đổi ở mức tối thiểu 1% (CR=1%), có nghĩa là 100 người truy cập vào website của bạn thì ít nhất phải có 1 người mua hàng. Nhưng thực tế rất ít đơn vị đầu tư cho việc tracking hiệu quả và liên tục cải tiến để tăng CR.
– Khó khăn thứ 3 là đảm bảo chất lượng dịch vụ logistic từ khâu giao hàng, hỗ trợ sau bán, bảo hành, đổi trả hàng hoá đều phải chính xác, thân thiện và nhanh chóng. Mỗi nhân viên giao hàng, nhân viên CSKH đều phải là đại sứ bán hàng của công ty.
– Khó khăn thứ 4 là về margin, nếu bạn bán được nhiều thì các nhà phân phối mới chiết khấu cao cho bạn, nếu không thì % chiết khấu sẽ thấp và khó cạnh tranh về giá với đối thủ và thị trường offline. Ngược lại, nếu bạn để giá cao thì khó bán hàng, dẫn đến sản lượng thấp. Do vậy bạn cần cân đối thật chắc chắn về chính sách giá cũng như doanh số bán hàng.
– Khó khăn thứ 5 là cá lớn nuốt cá bé. Các ông lớn sẵn sàng vung tiền để phủ thị trường, để đạt quy mô và được giá tốt, lúc này việc cạnh tranh giữa các đơn vị quy mô nhỏ sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
c. Mô hình website khuyến mãi, giảm giá
Ở mô hình này thì ngoài khó khăn như mô hình website bán lẻ, nó còn có khó khăn rất lớn đó là làm việc và thuyết phục nhà cung cấp đồng ý giảm giá ở mức đủ để hấp dẫn khách hàng mà nhà cung cấp không được lỗ hoặc chỉ lỗ ít để mang lại nguồn thu cũng như khách hàng mới cho họ.
Khách hàng của mô hình này thông thường kém trung thành, nên việc giữ chân khách hàng là điều rất khó. Do vậy cần có những quyết định trong chiến lược để khai thác lợi nhuận ngắn hạn từ những khách hàng có được, tránh việc đầu tư dài hạn để lấy user với hi vọng sau đó sẽ khai thác từ tập khách hàng đó.
website khuyến mại
d. Mô hình website đấu giá trực tuyến
Rõ ràng rằng tại Việt Nam, mô hình này đang gặp rào cản rất lớn đó là thiếu niềm tin. Tôi không tin là tôi đấu giá có thể trúng với giá rẻ, tôi không tin các nhà cung cấp sẵn sàng cho đi sản phẩm của mình chỉ nhằm mục đích quảng bá… có hàng vạn lý do để người tham gia không tin vào hình thức này.
Để làm mô hình này thành công, trước hết website đấu giá phải đảm bảo mọi yếu tố đều minh bạch và show được nó cho khách hàng thấy để họ khỏi nghi ngờ chân gỗ hay sự thiếu trung thực.
e. Mô hình localize e-commerce và dịch vụ
– Về localize e-commerce, sự mở rộng thị trường rất khó khăn và chậm do yếu tố địa phương hoá. Mặt khác, yếu tố chất lượng dịch vụ được đặt lên hàng đầu. Do vậy áp lực về chất lượng dịch vụ rất lớn, đòi hỏi người làm mô hình này phải kiểm soát tốt, song song với đó là chi phí đầu tư cho dịch vụ phải cao thì mới đảm bảo được chất lượng theo yêu cầu. Ví dụ về mô hình gọi món online, nếu sau 30-45 phút mà không giao được đồ ăn cho khách thì khách sẵn sàng huỷ order ngay lập tức.
– Về các website dịch vụ như đặt bàn, đặt chỗ, đặt phòng khách sạn,… thì khó kiểm soát được chất lượng của nhà cung cấp. Bởi lẽ mô hình này chỉ là yếu tố trung gian kết nối khách hàng với merchant. Nếu merchant không làm hài lòng khách hàng thì sẽ khó chiêu dụ khách hàng quay lại sử dụng tiếp dịch vụ của website. Do vậy cần kết hợp với các merchant để cùng kiểm soát chất lượng dịch vụ của merchant.

III. Kết luận

Để triển khai TMĐT thành công, bạn phải hiểu rất rõ về những gì bạn đang có và hiểu rõ về ngành hàng cũng như phân khúc khách hàng bạn đang nhắm tới, nhằm phát triển và chiếm tối đa thị phần trong mảng mình kinh doanh.
Chất lượng dịch vụ và kiểm soát tồn kho, thất thoát là hai khó khăn lớn nhất trong việc triển khai TMĐT nhưng nó lại là yếu tố sống còn để quyết định mô hình TMĐT của bạn có thành công hay không.
Nguyễn Văn Tuấn
Giám đốc Khối Thương mại điện tử – VCCorp
Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

Marketing - Các chiến thuật định giá

Chiết khấu

Một trong những chiến thuật định giá thông thường là chiết khấu – bán sản phẩm với giá thấp hơn giá thông thường vì một lý do đặc biệt. Bạn có thể là chiết khấu để bán hết số hàng tồn kho hoặc chiết khấu cho khách hàng mua nhiều. Bằng cách bán một lúc nhiều sản phẩm hơn, bạn có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn vì chi phí thấp hơn.

Vấn đề quan trọng khi chiết khấu là nên tìm một lý do đặc biệt để chiết khấu. Bằng cách đó, bạn sẽ dễ dàng bán sản phẩm với giá thông thường sau đó. Ví dụ, bạn có thể chiết khấu trong những dịp đặc biệt như Noel, Tết, ngày nhà giáo hoặc các sự kiện đặc biệt khác.


Ví dụ, vào Lễ hội Mua sắm Tết 2005 ở Công viên Tao Đàn, TP. Hồ Chí Minh, , nhiều công ty dệt may đã đưa ra các chương trình chiết khấu lớn. Tại lễ hội này. May Phương Đông bớt giá cho sản phẩm của họ, ví dụ như từ 89.000đ xuống 40.000đ cho 1 áo sơ mi trắng. Nino Maxx giảm 30%-50% giá quần cho thanh niên cùng với gói quà xinh xắn. Legamex giới thiệu 25 sản phẩm mới với mức giá thấp hơn 15%-25%; Các nhãn hiệu có cao cấp như Pierre Cardin và An Phước cũng chiết khấu 10%.

Tuy nhiên, nên cẩn thận khi chiết khấu. Nếu chiết khấu quá nhiều hoặc quá thường xuyên, các khách hàng có thể băn khoăn đâu là giá thật của sản phẩm hoặc xem sản phẩm của bạn như một sự lựa chọn rẻ tiền, khiến sau này bạn khó bán với mức giá thật.

Định giá lẻ

Chiến thuật thường được những người bán lẻ áp dụng - đặt giá kiểu 19.990đ thay vì 20.000đ - có thể có ích cho bạn nếu giá quan trọng đối với khách hàng của bạn khi đưa ra quyết định mua hàng. Chiến thuật này có thể tạo ra một mức giá thấp về mặt tâm lý trong suy nghĩ của khách hàng. Hơn nữa, bán sản phẩm của bạn tại mức giá 19.900đ thay vì 20,000đ không chênh nhau nhiều nhưng khi khách hàng mua với khối lượng lớn thì họ sẽ tiết kiệm được một khoản tương đối.

Siêu thị điện thoại di động Thế giới Di động (Thegioididong.com) áp dụng chiến thuật này cho các sản phẩm điện thoại di độngvà PDAs. Ví dụ, O2 XDA Iii có giá 14.629.000đ, HP 6515: 12.099.000đ, Nokia N90: 10.979.000đ, hoặc Sony Ericsson W900i: 12.399.000đ.

Định giá hòa vốn

Chiến thuật này đề cập tới việc bán một sản phẩm hoặc dịch vụ ở mức giá rất thấp chỉ phục vụ mục tiêu thu hút khách hàng mới. Cách này có thể áp dụng cho một số sản phẩm của bạn hoặc hoặc áp dụng với khách hàng mới và sau đó quay lại mức giá thông thường. Bằng cách này, đôi khi có thể định giá ở mức chi phí nhưng chỉ trong thời gian ngắn.

Định giá hớt váng sữa

Định giá hớt váng sữa là bán sản phẩm hoặc dịch vụ ở mức giá cao nếu sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn có lợi ích hoặc đặc tính độc đáo. Do đó, khi sản phẩm hoặc dịch vụ không còn tính độc đáo do có các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự thì sẽ giảm dần giá bán. Các mẫu điện thoại di động cao cấp thường được bán ra thị trường theo chiến lược giá này như O2 XDA III, Nokia 9500 hoặc Sony Ericsson P900i.

Định giá thâm nhập thị trường

Định giá thâm nhập thị trường ngược lại với định giá hớt váng sữa – bạn bắt đầu với mức giá thấp để có được thị phần lớn trước khi các đối thủ đuổi kịp. Khi có đủ số khách hàng trung thành thì có thể tăng giá bán. Xem hướng dẫn về tăng và giảm giá.

Chiến lược phân khúc: câu chuyện của dầu gội X – Men

Kẻ mạnh trên thương trường có những đòn đánh mạnh như đội bom tấn. Và trong những lần như thế, đối thủ của họ, hoặc chết, hoặc cũng phải hao tổn không ít binh khí. Trước nhiều thương hiệu mạnh cả về thế lẫn lực, có cơ hội nào cho các thương hiệu mới bắt đầu những bước tạo dựng đầu tiên? Bài học thành công đang được nhiều người nhắc đến trong thời gian này là X-Men, thương hiệu chỉ mới ba năm tuổi của Công ty cổ phần Hàng gia dụng quốc tế …



Thời điểm X-Men ra đời và ngay cả đến lúc này, thị trường dầu gội chủ yếu do hai “đại gia” Unilerver và Procter & Gamble (P&G) thống lĩnh. Unilever gắn liền với những thương hiệu mà khách hàng đi đâu cũng thấy: Sunsilk, Clear, Dove, Lifebuoy. P&G không kém cạnh với Pantene và Head & Shoulders.Sân chơi lớn còn có sự góp mặt của một vài thương hiệu khác như: Double Rich, Enchanteur, Palmolive…Dựa vào nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, các nhà làm thương hiệu chọn cách cạnh tranh bằng việc chia phân khúc. Phân khúc dầu gội trị gàu có Clear, Head & Shoulders và nặng về bệnh lý hơn một chút là Nizoral. Thiên về mùi hương dành cho nữ, hầu như chỉ có Enchanteur của Công ty TNHH Unza làm mưa làm gió.Sản phẩm nhắm đến gia đình, có thu nhập thấp, chủ yếu ở các tỉnh, là Lifebuoy. Gần đây, phân khúc này đang bị thu hẹp dần vì thu nhập của người dân ngày càng khá hơn.Khi X-Men chưa ra đời, phân khúc dầu gội dành cho nam được độc chiếm bởi Romano, thuộc Công ty TNHH Unza. Ba năm qua, phân khúc này vẫn tăng trưởng tốt. 

Mở mặt trận riêng:

Tuy nhiên, Romano chưa tận dụng hết thế mạnh của mình và chỉ được xem là nhãn hiệu phụ bên cạnh Enchanteur. Mọi ngân sách, hỗ trợ từ công ty mẹ dành cho Romano đều chưa tương xứng với tiền lực phát triển của nhãn hiệu này. Chính vì vậy, doanh số bán Romano vẫn chưa đáng kể so với tiềm năng của thị trường.Nắm rõ tình hình thay vì tìm cách giành khách hàng từ “mặt trận phía Tây” của Romano, X-Men mở một mặt trận riêng, ở phía Đông. Cụ thể, họ nhắm đến đối tượng khách hàng hoàn toàn mới. Đó là những người đàn ông vẫn đang sử dụng dầu gội dành cho nữ.Quả thật, khi chưa có sự xuất hiện của X-Men, nhiều người vẫn không mấy quan tâm đến việc mình đang dùng dầu gội cho nam hay nữ. Thói quen tiêu dùng của đa số đàn ông Việt Nam vẫn là: người phụ nữ trong gia đình mua gì, họ sẽ dùng nấy.Nắm bắt điều này, những người quản lý thương hiệu X-Men chọn chiến lược: nhắm vào cả hai nhóm khách hàng: đối tượng sử dụng và đối tượng mua.Thực tế, đa số đàn ông ít đi mua dầu gội nói riêng và những sản phẩm chăm sóc đầu tóc nói chung. Người phụ nữ đóng vai trò quyết định trong chuyện này. Vợ mua cho chồng. Bạn gái mua cho người yêu. Chị mua cho em trai, và em gái mua cho anh…Bởi thế, thông điệp từ X-Men: “Nếu thương chồng, hãy để anh ấy dùng dầu gội riêng” đánh trúng ngay “tim đen” của những người phụ nữ.



Bánh mì kẹp thịt và bánh mì kẹp thịt, thêm chả:

Ngay từ đầu, X-Men đã xác định dầu gội là sản phẩm chiến lược. Mọi ngân sách, nỗ lực đều dành cho nhóm sản phẩm này. Trong khi đó, Romano đang nhắm vào phân khúc sữa tắm, khá nhỏ so với dầu gội.Yếu tố “thiên thời” mở ra khi X-Men tung chiến lược quảng cáo dầu gội đúng lúc chiến dịch quảng cáo sữa tắm Romano trên truyền hình sắp kết thúc. Ngân sách tiếp thị vốn không nhiều nên Romano không kịp trở tay.Thừa thắng xông lên, X-Men tung ra nhiều chiến dịch tiếp nối, vẫn dựa trên thông điệp cũ nhưng mở rộng đến nhiều đối tượng khác. Yếu tố được nhắm đến là: tuổi tác, thu nhập, khu vực sống, những người còn chần chừ, chưa muốn thể hiện mình thương chồng/người yêu/anh/em trai… và cả những người chưa muốn mọi người nhìn thấy mình là “đàn ông đích thực”Trước mối nguy để mất thị phần vào tay X-Men, Romano buộc phải tìm “vũ khí” mới. Họ bắt đầu tung ra sản phẩm dầu gội và sữa tắm Racing, bán với giá rẻ hơn X-Men. Đây là chiến lược “bánh mì kẹp thịt”: trên có Romano, dưới có Racing, kẹp X-Men ở giữa.Như một trận chiến thực sự, X-Men buộc phải tìm cách phòng vệ và tấn công. Họ quyết định dùng chính chiến lược “bánh mì kẹp thịt” để phá thế gọng kìm” tung ra X-Men For Boss. Như vậy, trên có X-Men For Boss, dưới có X-Men, kẹp Romano ở giữa. Không chỉ là “bánh mì kẹp thịt”, X-Men còn kẹp thêm chả, ngày càng “hấp dẫn”. Trong khi đó, sau khi dồn mọi thứ cho việc ra mắt Racing, Romano ít nhiều gặp khó khăn. Đây là cơ hội để thương hiệu dành cho “đàn ông đích thực” không ngừng phát triển với nhiều kế hoạch thống lĩnh thị trường. Khi đã chiếm được vị trí đầu trong phân khúc, X-Men tiếp tục triển khai chiến lược quan trọng: đa dạng hóa sản phẩm. Không chỉ có dầu gội X-Men, hàng loạt sản phẩm “ăn theo” khác ra đời: sữa tắm, lăn/xịt khử mùi, gel/mousse, nước hoa dành cho nam giới.Chọn hướng đa dạng hóa sản phẩm, tuy nhiên, X-Men vẫn nhất quán trong chiến dịch tiếp thị. Tất cả các mẫu quảng cáo đều nhấn mạnh đến dầu gội, không chuyển hướng sang sữa tắm hay lăn/xịt khử mùi, nước hoa… Điều này giúp X-Men luôn củng cố hình ảnh của mình trong tâm trí khách hàng. Quan trọng hơn là đảm bảo mức tăng trưởng và giữ vị trí số một.Với ngân sách nhỏ dành cho công tác tiếp thị, mật độ quảng cáo của X-Men không được liên tục và dày đặc trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, sử đầu tư nào của X-Men cũng “ra ngô ra khoai”. Đặc biệt là mẫu quảng cáo X-Mission đầy sáng tạo.Theo khảo sát của công ty Nielsen, trong tháng 1-2007, X-Mission được người xem nhớ thứ hai, sau quảng cáo Comfort với nhân vật Andy và Lili. Điều đáng nói là trong cùng thời gian phát X-Mission, có nhiều phim quảng cáo “hoành tráng” của các thương hiệu lớn: Coca-Cola, Omo, Tiger Beer, Pond’s… Trong tháng 3-2007, X-Mission không còn xuất hiện trên truyền hình. Tuy nhiên, quảng cáo này vẫn xếp thứ tư trong danh sách phim quảng cáo được nhiều người ghi nhớ.Một lần nữa, X-Men là minh chứng hùng hồn cho quan điểm: Yếu tố sáng tạo đóng vai trò quyết định trong quảng cáo và các chiến dịch truyền thông tích hợp. Không phải “nhiều tiền, lắm của” là thắng. 

Chiến lược phân khúc:

Chiếc bánh ngày càng hấp dẫn, điều tất yếu là nhiều người muốn được chia phần. Áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Đây là lúc công ty mẹ của X-Men áp dụng triệt để chiến lược phân khúc.Đến lúc này, họ không chỉ có thương hiệu X-Men mà còn hàng loạt “tên tuổi” khác. Đây là cách giúp tăng thị phần, doanh số và quan trọng hơn là che chắn, bảo vệ cũng như giảm áp lực cho X-Men.Mỗi thương hiệu nhắm đến một phân khúc khác nhau, với từng đối tượng cụ thể. Dr. Men dành cho đàn ông muốn trị gàu. Hatrich nhắm đến người chơi và yêu thích thể thao, cụ thể là bóng đá. Teen-X dành cho học sinh nam cấp 2,3. I-In-I cho người thích sự tiện lợi. Và trên hết, có X-Men For Boss, phục vụ cho những người thành đạt.Kế hoạch phát triển của X-Men, không nằm ngoài khuynh hướng chung của nhiều thương hiệu lớn trên thế giới: xây dựng một siêu thương hiệu. Có nghĩa là khi nhắc đến X-Men, người ta sẽ không chỉ nhắc đến dầu gội dành cho nam giới. So cả về thế lẫn lực, X-Men chỉ là chàng tí hon trước các tên tuổi lớn. Tuy nhiên, chàng tí hon đã làm nên kỳ tích một cách thuyết phục. Với ngân sách dành cho tiếp thị chỉ 599.000 USD trong năm 2006, nhưng X-Men chiếm được 7% thị phần, xếp thứ 5 trên thị trường dầu gội nói chung và đứng đầu (hơn 60% thị phần) trong phân khúc dầu gội dành cho nam.Đó là thành công lớn với một thương hiệu Việt, đặc biệt trong ngành dầu gội, nơi so găng của rất nhiều thương hiệu lớn. “X-Men nên tìm hiểu thêm những ai chưa dùng sản phẩm của mình để làm thêm nhiều thứ trong tương lai” 60% là thị phần của thương hiệu X-Men trong phân khúc dầu gội dành riêng cho nam giới.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

10 lý do nên hài hước ở nơi làm việc

Khiếu hài hước được xem là một chìa khóa giúp bạn thành công hơn công việc. Nếu có khả năng đem lại niềm vui và tiếng cười bổ ích cho đồng nghiệp, bạn đừng ngần ngại phát huy.



Theo các chuyên gia, về bản chất, sự hài hước cũng giống như một “con dao hai lưỡi” và mọi người có xu hướng kiềm chế nó ở nơi làm việc. Để hài hước một cách hợp lý là một việc khó. Nhưng rất dễ để bạn khiến mọi người cảm thấy khó chịu hoặc ngượng ngùng nếu sự hài hước của bạn là “thô” hoặc vô duyên.

Mức độ hài hước ở mỗi công sở tùy thuộc hoàn toàn vào văn hóa ở đó. Những công ty khuyến khích nhân viên đề cao trí sáng tạo cá nhân thường có xu hướng cởi mở hơn với những câu chuyện tếu. Tuy nhiên, cũng có những công ty muốn nhân viên giữ thái độ nghiêm túc khi làm việc, và với những công ty như thế này, khiếu hài hước của bạn có thể “phản tác dụng”.

Sự hài hước được khuyến cáo sử dụng “có liều lượng” ở công sở. Đặc biệt, bạn có thể đối mặt với rủi ro nếu nói chuyện tếu với sếp. Bên cạnh đó, nếu không khéo, những câu chuyện vui của bạn có thể xúc phạm tới ai đó, hoặc không nhận được sự hưởng ứng của đồng nghiệp.

Tuy nhiên, đem tới niềm vui và tiếng cười cho bản thân và đồng nghiệp ở nơi công sở là điều mà nhiều người muốn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khiếu hài hước ít nhất là một trong những chìa khóa dẫn tới thành công. Chẳng hạn, một cuộc thăm dò của Robert Half International cho thấy, 91% nhà quản lý tin rằng, khiếu hài hước giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự nghiệp; 84% cho rằng, những người có khiếu hài hước làm việc tốt hơn.

Các chuyên gia cho rằng, hiếu hài hước thể hiện sự trưởng thành và khả năng bao quát vấn đề. Bạn không cần phải là một “diễn viên hài kịch”, nhưng hài hước đúng lúc và thông minh sẽ giúp ích thúc đẩy sự nghiệp của bạn.

Dưới đây là 10 lý do bạn nên phát huy khiếu hài hước ở nơi làm việc:
1. Mọi người sẽ thích làm việc cùng bạn

Ai cũng muốn làm việc với người mà họ thích. Trong khoảng thời gian làm việc ở công sở mỗi ngày, không ai muốn giáp mặt với một người lúc nào cũng “khó đăm đăm”. Hài hước một cách khéo léo là giúp bạn có thêm bạn bè và gây ảnh hưởng với mọi người xung quanh. Hãy hài hước đúng mực, đừng châm biếm “thô” vì bạn có thể xúc phạm tới ai đó.

2. Hài hước là một cách xả stress hữu hiệu

Hài hước cùng lúc có ba tác động. Nó làm thay đổi cách nhìn của bạn đối với những nhân tố gây căng thẳng, là một phản ứng cảm xúc, đồng thời cũng là phản ứng thể chất giúp bạn thư giãn khi bạn cười.

3. Hài hước tạo sự hòa đồng


Sự hài hước giúp mọi người cùng làm việc xích lại gần nhau hơn, nhận thấy rằng tất cả cùng đang tìm kiếm một mục tiêu chung.

4. Hài hước làm mọi người cảm thấy dễ chịu

Đây được xem là một cách phá vỡ những tình huống căng thẳng. Các nghiên cứu đã cho thấy, hài hước là nhân tố phá vỡ những tình huống căng thẳng trong môi trường làm việc. Tiếng cười giúp cho những người đang ở trong một tình thế xung đột có xu hướng chuyển từ những ý nghĩ iêu cực, nhỏ hẹp, chuyển sang nảy sinh nhiều ý tưởng mới hơn để giải quyết vấn đề.

5. Hài hước tăng cường sự sáng tạo

Hài hước có thể được xem như một thành phần chủ chốt trong khả năng sáng tạo của con người. Khiếu hài hước giúp con người có nhiều ý tưởng, giảm bớt sự chỉ trích bên trong, và nhìn nhận mọi thứ theo những cách mới. Hài hước cũng tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho sự sáng tạo, bởi mọi người thường có cảm hứng nhiều hơn khi họ cảm thấy thư giãn.

6. Hài hước giúp xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau

Bạn có thể tạo niềm tin với đồng nghiệp bằng cách sử dụng khiếu hài hước, bởi hài hước thường tiết lộ con người thật bên trong hình ảnh con người nghề nghiệp. Một số nghiên cứu đã cho thấy, những người cho thấy sự hài hước lành mạnh thường được mọi người yêu mến hơn và được xem là đáng tin cậy hơn.

7. Hài hước cải thiện đạo đức làm việc 

Hài hước có khả năng tăng đạo đức làm việc và giữ chân người lao động, giảm tốc độ thay thế nhân viên vì ai cũng muốn đến cơ quan để làm việc trong một môi trường vui vẻ, thoải mái.

8. Những người hài hước thường dễ gần hơn

Nếu bạn càng dễ gần, nhất là khi bạn là một nhà lãnh đạo, thì mọi người sẽ càng trung thực và cởi mở với bạn. Khi đó, nhóm làm việc của bạn sẽ càng sáng tạo và thành công.

9. Sự hài hước có thể giúp công ty của bạn trở nên nổi bật

Bên cạnh dịch vụ và sản phẩm tốt, một công ty có mức độ hài hước cao có thể trở nên nổi bật so với các đối thủ, từ đó giúp họ có một lực lượng đông đảo những khách hàng trung thành. Nếu bạn muốn công ty của mình nổi bật, hãy gắn sự hải hước với dịch vụ và sản phẩm.

10. Hài hước giúp cải thiện năng suất

Hài hước tạo ra một môi trường thỏa mái, khuyến khích sự tương tác, động não tìm ý tưởng mới, và cảm giác không có nhiều rủi ro khi suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ. Tất cả những yếu tố này giúp năng suất làm việc tăng lên.

Chiến lược Marketing - 3 chiến lược Marketing cơ bản


InE-mail
Nguồn tin: Marketing Vietnam   
Mỗi chiến lược marketing phải được đánh giá bằng khả năng tác động và ảnh hưởng trực tiếp của nó tới một trong ba yếu tố này. Nếu một trong ba yếu tố này tăng lên có nghĩa là doanh nghiệp đã phát triển. Nếu cả ba yếu tố đều tăng thì doanh nghiệp đó phát triển rất tốt. 
Chiến lược 1: Tăng số lượng khách hàng
Tăng số lượng khách hàng là bước đầu tiên của hầu hết các nhà quản lý và các chủ doanh nghiệp để phát triển doanh nghiệp của mình. Nếu người chịu trách nhiệm thiết kế và triển khai chương trình marketing đầu tư để thu hút nhiều khách hàng hơn là người thiếu kinh nghiệm thì công ty có thể gặp thất bại.

Nếu thực hiện đúng, các chiến lược marketing cơ bản sẽ tạo ra hiệu quả thu hút các khách hàng tiềm năng đã sẵn sàng và có thể mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp. Mục tiêu chính của chiến lược marketing này là thu hút khách hàng mới và cung cấp các dịch vụ mới cho số khách hàng cũ để họ hài lòng hơn. Qua đó từng bước nâng số lượng khách hàng.
Chiến lược thứ 2: Tăng số lượng giao dịch trung bình
Các nhà quản lý và các chủ doanh nghiệp dành đa số thời gian của mình để điều hành doanh nghiệp và tìm kiếm khách hàng mới. Họ thường rất quan tâm tới số khách hàng mà họ thường gặp. Số khách quen này thường được phép tiến hành toàn bộ các giao dịch mà không bao giờ bị hỏi liệu có mua thêm sản phẩm hay dịch vụ không?

Với những khách hàng mới, không nên hài lòng với số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ tối thiểu mà họ đã mua, nên đưa ra những lý do thuyết phục họ mua thêm. Nếu khách hàng không tìm thấy lý do để buộc phải mua thêm sản phẩm hay dịch vụ của một doanh nghiệp, họ sẽ tìm ra lý do để chuyển sang mua của doanh nghiệp khác. Chào mời khách hàng một cách có hệ thống những sản phẩm và dịch vụ bổ sung có giá trị ở cùng một điểm bán hàng có thể giúp doanh nghiệp tăng số lượng giao dịch trung bình của mình.
Chiến lược thứ ba: Tăng số lần mua hàng thường xuyên của khách quen
Khi đã thiết lập được hoạt động kinh doanh thì nhiều doanh nghiệp không chú ý chăm sóc khách quen. Nếu không có những chiến lược hoặc quy trình marketing cơ bản để thường xuyên tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của số khách hàng quen thì số lần mua hàng của họ sẽ không tăng. Cần thường xuyên thực hiện các chiến lược thông tin và chăm sóc đối với các khách hàng mới và cũ thông qua điện thoại hoặc thư từ để thúc đẩy họ thường xuyên mua sản phẩm của công ty. Đây cũng là một trong những bước để chủ doanh nghiệp phát triển doanh nghiệp của mình.

Chiến lược Marketing - Yếu tố đầu tiên

Trong một mẫu quảng cáo của thương hiệu sữa TH True Milk, hãng này đã nhấn mạnh, “sữa sạch” bắt nguồn từ những đồng cỏ xanh và công nghệ hiện đại.

Thông điệp quảng cáo này đã châm ngòi một làn sóng phản đối từ các hãng sữa khác và ngạc nhiên hơn cả là từ chính Hiệp hội Sữa Việt Nam. Họ lý luận việc TH True Milk tuyên bố sữa sạch sẽ khiến người tiêu dùng cho rằng sữa của các hãng khác “không sạch”.
Rõ ràng, không có bất cứ dấu hiệu vi phạm nào trong mẫu quảng cáo này. TH True Milk cũng không có lời lẽ ám chỉ về đối thủ cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, những vấn đề đó không phải là mối quan tâm hàng đầu của những người làm marketing.
Họ quan tâm nhiều hơn đến lý do thành công của chiến dịch quảng cáo này. Điều mà TH True Milk đang thực hiện gọi là chiến lược quảng cáo giành lợi thế tiên phong. Theo đó, họ tuyên bố một đặc tính thông thường của sản phẩm sữa (sữa sạch). Tất nhiên, mọi công ty sản xuất sữa đều có khả năng và cũng bắt buộc phải đáp ứng tiêu chuẩn này. Vấn đề ở chỗ không ai trong số họ nhận thức được việc cần phải tuyên bố điều này trên truyền thông đại chúng.
TH là công ty đầu tiên tuyên bố và họ đã đi trước một bước so với các đối thủ khi thực hiện điều này. Chiến lược xây dựng thương hiệu kiểu này đã xuất hiện từ lâu trong marketing. Một thương hiệu cà phê nổi tiếng của Mỹ có slogan là: “Folger: cà phê trồng trên cao nguyên”. Thông điệp này không có gì mới lạ. Ai cũng biết tất cả các loại cà phê đều trồng trên cao nguyên.
VarpoNet, một thương hiệu phát triển công nghệ thông tin cũng có tuyên ngôn “cung cấp dịch vụ truy cập internet không dây”. Rõ ràng, đây là một chức năng cơ bản mà một công ty công nghệ thông tin có thể cung cấp. Chỉ có điều, trước Folger và VarpoNet không có thương hiệu nào tuyên bố trên truyền thông đại chúng về điều này.
Vậy lợi ích ở đây là gì? Tất nhiên còn có rất nhiều lợi ích đáng mơ ước khi thương hiệu biết sử dụng vũ khí đơn giản nhưng hiệu quả này. Sạch là một đặc tính chung của các nhãn sữa. Tuy nhiên, khi TH True Milk là đơn vị đầu tiên danh xưng rằng họ là thương hiệu sữa sạch, đặc tính này đã trở thành một đặc điểm riêng của TH trong tâm trí người tiêu dùng, mặc dù hãng sữa này mới gia nhập thị trường không lâu. Đặc điểm này mang lại cho TH một liên tưởng giá trị (sạch) khi khách hàng nghĩ về thương hiệu này.
Điều này hoàn toàn đúng với 1 trong 22 nguyên tắc bất biến trong xây dựng thương hiệu: Đầu tiên trong tâm trí khách hàng tốt hơn nhiều so với xuất hiện đầu tiên trên thị trường (22 nguyên tắc bất biến trong marketing – Al Ries & Jack Trout). Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, thương hiệu TH True Milk bỗng nhiên được giới truyền thông nói đến rất nhiều mà không mất một đồng quảng cáo nào. Trong thời buổi khủng hoảng, đó là một phần thưởng đáng giá cho họ.
Những câu chuyện thương hiệu như thế này ở Việt Nam là rất phổ biến bởi ngành marketing của chúng ta vẫn còn khá non trẻ và cơ hội luôn chờ đón những thương hiệu biết vận dụng sáng tạo những quy luật đã được trải nghiệm từ rất lâu trên thế giới. Nếu là một người làm marketing, bạn cần biết biến một thuộc tính chung thành thuộc tính thương hiệu của riêng bạn và đó sẽ là cơ hội tuyệt vời để trở nên khác biệt.