CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI NGÔI NHÀ ONLINE CỦA THÀNH CÔNG

Ngọn nến ấm áp sẽ được thắp lên để sưởi ấm cho căn phòng...

KHOẢNH KHẮC ẤY RỒI CŨNG QUA MAU

Niên khóa 2010 - 2015.

NHẬT KÝ NGÀY THÁNG NĂM

22h TỐI HẰNG NGÀY CÙNG NHAU ĐÓN ĐỌC NHẬT KÝ CÁ NHÂN NHÉ! :).

DU LỊCH VÀ GÓC ĂN UỐNG

Nơi ra đời của những tấm ảnh, video ghi lại khoảnh khắc du ngoạn bốn phương và những món ăn bản thân có thể làm.

NGÔI NHÀ MƠ MỘNG

Một bên là biển một bên là thành phố...

Jon Bin

Jon Bin
Ảnh cá nhân
Hiển thị các bài đăng có nhãn CEO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CEO. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Dòng tiền mới chảy vào các nước mới nổi

Dòng tiền mới chảy vào các nước mới nổi

Các nhà đầu tư quốc tế có kế hoạch đổ nhiều tiền hơn vào các nền kinh tế đang nổi khi mà lãi suất tại các thị trường phát triển vẫn ở mức thấp kỷ lục, theo dự báo của Viện Tài chính Quốc tế (IIF).

Dòng tiền mới chảy vào các nước mới nổi
Dòng tiền mới chảy vào các nước mới nổi
Trong báo cáo vừa công bố, Viện Tài chính Quốc tế (IIF) cho biết, các nền kinh tế khu vực Đông Âu dự kiến cũng sẽ được hưởng lợi nếu cuộc khủng hoảng ở Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) dịu bớt. Năm ngoái dòng vốn chảy vào khu vực này đã sụt giảm mạnh.
Các nước phát triển hàng đầu hiện vẫn kìm giữ lãi suất ở các mức thấp nhất trong lịch sử và thậm chí sắp tới còn có thể hạ xuống thấp hơn nữa. Nhật Bản vừa công bố chương trình mua tài sản không giới hạn, điều có nghĩa là sẽ in thêm nhiều tiền hơn nữa. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng trung ương Anh (BoE) hiện cũng đang chịu sức ép phải hành động nhiều hơn nữa để hỗ trợ cho các nền kinh tế ốm yếu của họ.
Trong quá khứ, dòng tiền khổng lồ đổ vào các thị trường đang nổi đã gây ra một số vấn đề, làm đồng nội tệ của các nước đang phát triển – vốn dựa chủ yếu vào xuất khẩu – mạnh lên, gây nên những quan ngại về các cuộc chiến tiền tệ. Đã có nhiều nhà hoạch định chính sách lên tiếng cảnh báo về nguy cơ này, trong đó có cả thống đốc các ngân hàng trung ương Anh và Đức.
Tuy nhiên, IIF cảnh báo rằng, mặc dù lãi suất ở các nền kinh tế lớn vẫn đang được duy trì ở các mức thấp kỷ lục, song xu hướng này có thể sẽ nhanh chóng đổi chiều.
Trong báo cáo trên, IIF đã dự báo dòng vốn tư nhân đổ vào các thị trường đang nổi sẽ tăng lên 1,118 nghìn tỷ USD trong năm 2013, tăng 3,5% so với con số ước tính khoảng 1,108 nghìn tỷ USD của năm 2012. Theo IIF, các điều kiện tiền tệ ở các nền kinh tế phát triển vẫn khá dễ dàng. Kết hợp với các điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng ở các nền kinh tế đang nổi sẽ tạo nên một xu hướng tăng trưởng đáng kể cho dòng chảy của nguồn vốn trong năm 2012 và xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong suốt năm 2013, cũng như trong năm 2014, với lượng vốn đầu tư có thể lên tới 1,150 nghìn tỷ USD vào năm 2014.
IIF cũng đề cao việc dòng vốn có khả năng sẽ đổ nhiều hơn vào các thị trường đang nổi ở châu Âu do nhà đầu tư đã bớt lo ngại về tương lai của đồng euro. Tuy nguồn vốn đổ vào các thị trường này trong năm 2012 đã giảm xuống còn 193 tỷ USD so với 210 tỷ USD của năm 2011, song IIF cho rằng sẽ tăng lên 220 tỷ USD trong năm nay và 237 tỷ USD trong năm 2014. Mặc dù vậy, nguồn vốn này vẫn nhỏ hơn so với “dòng tiền nóng” đổ vào các thị trường đó trong giai đoạn 2005-2007, thời điểm trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu 2008/2009. Nhưng IIF cho biết, dòng vốn đổ vào châu Á và Mỹ Latinh sẽ cao hơn 30% so với các mức của năm 2007.
Theo Charles Dallara, Giám đốc điều hành IIF, điều này có thể dẫn tới những rủi ro cho các thị trường đang nổi nếu lãi suất tại Mỹ tăng lên và các nhà đầu tư cần xem xét cẩn trọng để tránh bị thất bại. IIF cho rằng, tỷ lệ thất nghiệp sụt giảm và nền kinh tế có nhiều cải thiện tại Mỹ có thể sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) chuẩn bị rút lại một số chính sách nới lỏng tiền tệ vào năm 2014. Tương tự, đã có những dấu hiệu cho thấy một số ngân hàng trung ương các nước có thể cũng sẽ sớm có những thay đổi về chính sách tiền tệ.
IIF cũng khuyến cáo các nhà đầu tư không nên rót quá nhiều tiền vào các thị trường đang nổi nếu Ngân hàng trung ương các nước phát triển chấm dứt các chính sách nới lỏng tiền tệ mà họ đã áp dụng trong những năm qua.
IIF (có trụ sở tại Washington, Mỹ) là tổ chức vận động hành lang lớn nhất thế giới cho các công ty tài chính với hơn 450 thành viên, trong đó có cả các ngân hàng thương mại và đầu tư toàn cầu lớn, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm rủi ro và các thể chế liên quan tới tài chính khác.
(Theo TTXVN)

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015

Chiến lược Giá rẻ: Rủi ro cao cho các thương hiệu

Chiến lược Giá rẻ: Rủi ro cao cho các thương hiệu

Giá cả luôn là kẻ thù của khác biệt hoá thương hiệu. Về định nghĩa, khác biệt hoá phải đáng giá một cái gì đó. Đó là lý do tại sao ta nên chú trọng hơn đến sản phẩm hoặc dịch vụ.

chiến lược giá rẻ
Chiến lược giá rẻ có phải là tốt? – Ảnh: Minh họa
Nhưng khi giá cả trở thành trọng tâm của thông điệp truyền thông hay hoạt động marketing của doanh nghiệp thì bạn đang bắt đầu từ bỏ cơ hội trở nên độc đáo. Điều bạn đang thực hiện là làm cho giá cả trở thành yếu tố cân nhắc chính khi lựa chọn thương hiệu của bạn so với các đối thủ khác. Đó không phải là con đường an toàn.
Rất ít công ty thấy hài lòng với hướng đi này bởi một lý do đơn giản: các đối thủ cạnh tranh cũng có thể giảm giá bất cứ lúc nào. Và thế là lợi thế của bạn sẽ biến mất.
Như chuyên gia Michael Porter nói, giảm giá là điều kém khôn ngoan nếu các đối thủ cạnh tranh có thể giảm giá thấp như bạn.

Trường hợp về những củ cà rốt giá rẻ

Để chứng minh cho luận điểm của Porter, chúng tôi dùng trường hợp một công ty mới thành lập có hệ thống bao bì độc đáo cho cả rốt bao tử. Đây chính là yếu tố khiến công ty này tạo được lợi thế về giá quyết định so với hai nhà cung cấp lớn khác đã có mặt trên thị trường.
Để có mặt trên các kệ hàng của siêu thị, công ty này không chỉ thâm nhập thị trường với những củ cà rốt chất lượng hơn mà còn với mức giá hợp lý hơn, khiến cho mức giá của hai đối thủ lớn trở nên đắt đỏ. Ngay lập tức, hai nhà cung cấp lớn kia cũng giảm giá bằng công ty mới này. Điều này khiến công ty bắt buộc phải giảm giá nữa và hai hãng kia lại một lần nữa cân bằng mức giá mới.
Khi một thành viên ban lãnh đạo cấp cao của công ty mới yêu cầu đội ngũ quản lý dự đoán tình hình tiếp theo, họ đã nói rằng hai công ty lớn kia sẽ không thể tiếp tục giảm giá bởi hành động đó thật “phi lý trí”. Họ đang mất tiền bởi công nghệ bao bì cũ.
Thành viên ban lãnh đạo đã xin tư vấn của chúng tôi về lời dự đoán này. Chúng tôi khuyên anh ta rằng hành động của các công ty kia là hoàn toàn có lý. Tại sao hai công ty vốn đã thống lĩnh thị trường lại dễ dàng để cho một công ty mới với lợi thế về giá vượt mặt họ? Họ hoàn toàn hài lòng với hướng đi hiện tại.
Trong cuộc họp hội đồng tiếp đó, ban lãnh đạo đã quyết định bán hệ thống sản xuất mới cho một trong hai thương hiệu lớn kia. Và họ đã kiếm được một khoản lời lớn.
Tất cả mọi người đều thoả mãn còn chiến lược giá rẻ thì đã bị lãng quên.

Góc nhìn - Màu sắc tôn vinh nhãn hiệu

Màu sắc tôn vinh nhãn hiệu


Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng yếu tố màu sắc thực sự góp phần nâng cao nhận thức nhãn hiệu và đóng vai trò lớn trong các lựa chọn mua sắm của khách hàng. Nó cũng gợi mở trí nhớ và khích lệ cảm xúc.

màu sắc thương hiệu
Màu sắc tôn vinh nhãn hiệu. Ảnh minh họa.
Ngay cả khi màu sắc nhãn hiệu của bạn đã hợp lý, đừng dừng lại ở đó. Hãy chắc chắn rằng những màu sắc bạn lựa chọn đang truyền tải một thông điệp thích hợp tới các khách hàng.
Lấy ví dụ ở logo công ty bạn. Xét về mặt cốt lõi của hình ảnh nhãn hiệu, nó gửi đi một thông điệp then chốt về sản phẩm hay dịch vụ của công ty bạn, hoặc ở một góc độ nào đó, nó tạo ra sự khác biệt giữa nhãn hiệu công ty bạn với các nhãn hiệu cạnh tranh khác. Mỗi một màu sắc đều mang trong mình một thông điệp riêng biệt. Điều này có nghĩa là nếu logo của bạn sử dụng bốn màu sắc, bạn đang gửi đi bốn thông điệp khác nhau trong cùng một lần. Thậm chí nếu các thông điệp là bổ sung cho nhau, chỉ một vài khách hàng có thể nhớ và liên tưởng tới tất cả các ý tưởng trong nhãn hiệu của bạn.
Một ví dụ khác đó là ở tấm danh thiếp kinh doanh, phần đầu đề thư hay các sản phẩm văn phòng phẩm khác. Không kể đến những nỗ lực nhãn hiệu cố kết, một tấm danh thiếp đa màu sắc có thể được xem là một lựa chọn tốt, nhưng càng nhiều màu sắc bạn sử dụng, yếu tố khác biệt sẽ càng ít đi. Bạn đang sử dụng màu sắc để củng cố các đặc tính nhãn hiệu, hay bạn đang gửi đi các thông điệp xung đột lẫn nhau? Một số công ty thành công có những cách thức sử dụng màu sắc nhãn hiệu của riêng mình. Trong tâm trí của người tiêu dùng, UPS là màu nâu. Trong thị trường nước giải khát, Coke là màu đỏ. Hơn nữa, màu xanh của IBM là khác hẳn so với màu xanh của Tiffany. Mỗi một công ty hàng đầu trên thị trường thường lựa chọn một màu sắc cụ thể đóng vai trò là màu sắc chủ đạo cho logo và hình ảnh nhãn hiệu của mình. Một vài công ty lựa chọn sự phối kết hợp của hai màu sắc, như FedEx với màu tía và màu da cam, song hiếm khi bạn thấy được một nhãn hiệu lớn được xây dựng trên nền tảng quá hai màu sắc cơ bản.
Ngoại lệ có thể là ở những công ty có sản phẩm hay dịch vụ khá đa dạng và có nội dung thiên về màu sắc, chẳng hạn như Skittles với bảy sắc cầu vồng của các hương vị hoa quả, hay các công ty in ấn. Bài học thất bại của một số hãng bia mới ở châu Âu đã chứng tỏ cho tầm quan trọng của yếu tố đặc trưng trong màu sắc nhãn hiệu. Sau khi thành lập, nhiều hãng bia đã sử dụng màu xanh lá cây cho hình ảnh nhãn hiệu của mình. Đây là một lựa chọn sai lầm khi mà qua thời gian, nhãn hiệu của các công ty bia này không những không gây được ấn tượng mà có phần ngày một phai mờ hơn. Nguyên nhân xuất phát ở chỗ tại châu Âu cũng như trên toàn thế giới, màu xanh lá cây đã quá in đậm trong tâm trí người tiêu dùng như là một màu đặc trưng của hãng nhãn hiệu bia Heineiken. Họ không mấy quan tâm tới những màu sắc tương tự và do đó, những nhãn hiệu có màu xanh lá cây sẽ không gây được sự chú ý nào cả. Rõ ràng, việc sử dụng màu sắc một cách riêng biệt sẽ là tốt nhất trong hình ảnh nhãn hiệu hay các dữ liệu tiếp thị.
John Williams, chủ tịch kiêm sáng lập viên LogoYes.com, trang web đầu tiên và lớn nhất thế giới về logo và nhãn hiệu công ty, đề xuất về việc xây dựng một bảng màu sắc hai thành phần cho hình ảnh nhãn hiệu bao gồm những màu chủ đạo cho logo cùng các văn phòng phẩm khác và những màu bổ sung cùng hình ảnh đồ hoạ phụ trợ cho trang web và các dữ liệu in ấn phức tạp hơn. Với 25 năm kinh nghiệm quảng cáo của mình, John đã xây dựng các chuẩn mực nhãn hiệu cho nhiều công ty trong danh sách Fortune 100 (100 công ty lớn nhất thế giới) như Mitsubishi, IBM, GM,…. Ông khuyên rằng trước khi lựa chọn một bảng màu sắc phù hợp cho việc xây dựng nhãn hiệu, bạn hãy quan tâm tới những vấn đề sau:

1) Các màu sắc có lôi cuốn những khách hàng mục tiêu của mình?

Theo John Williams, việc xây dựng màu sắc nhãn hiệu lôi cuốn còn là một phương thức tiếp thị hiệu quả. Tuy nhiên, nhiệm vụ này không mấy dễ dàng do có khá nhiều yếu tố khác nhau tác động. Cùng với thời gian, sản phẩm phải được khách hàng chấp nhận nên khi chọn màu biểu tượng cho sản phẩm đòi hỏi bạn phải có tầm nhìn sao cho màu sắc đó luôn mới mẻ, hiện đại trong con mắt khách hàng. Bạn hãy tính tới độ tuổi, giới tính, văn hoá và các yếu tố nhân khẩu học khác của các khách hàng mục tiêu.

2) Màu sắc chủ đạo của mình có riêng biệt?

Nó có nổi bật so với các nhãn hiệu cạnh tranh khác? Nếu nhãn hiệu của bạn nhỏ hơn, việc chia sẻ cùng màu sắc với những hãng dẫn đầu thị trường có thể là hợp lý lúc ban đầu. Song việc này rất dễ đẩy mạnh vị thế của các hãng dẫn đầu thị trường đó do sự nhầm lẫn của người tiêu dùng giữa nhãn hiệu của bạn với nhãn hiệu của hãng kia. Tốt nhất, hãy tạo dựng cho nhãn hiệu một màu sắc riêng biệt. Nhiều thập kỷ qua, màu đỏ luôn là đặc trưng của hãng bột ngọt Ajinomoto. Màu đỏ đó không hề thay đổi theo thời gian, thể hiện sự vững bền của công ty và của sản phẩm, đồng thời ăn sâu vào tâm trí của từ thế hệ khách hàng này đến thế hệ khách hàng khác.

3) Màu sắc mang ý nghĩa hay truyền tải thông điệp gì?

Ý nghĩa hay thông điệp của màu sắc cần thích hợp với nhãn hiệu của bạn. Mỗi sản phẩm đều có mối liên hệ nhất định với màu sắc nào đó. Nhất là những sản phẩm nổi tiếng thường được nhớ tới và nhận ra qua dấu hiệu chủ yếu là màu sắc.

4) Màu sắc chủ đạo có hợp thời hay đảm bảo sự bền vững nhất định?

Yếu tố thời trang hay xu hướng luôn thích hợp với các khách hàng trẻ tuổi, nhưng có thể không mấy dễ dàng với những khách hàng lớn tuổi hơn. Do vậy, tuỳ từng khác hàng mục tiêu, yếu tố màu sắc sẽ có thay đổi cho thích hợp. Một điều cần chú ý khác đó là màu sắc nhãn hiệu cần có sự bền vững, chứ không thể thay đổi liên tục được. Phụ thuộc vào mục tiêu kinh doanh, bạn có thể lựa chọn cho mình những màu sắc nhất định và phù hợp. Song quan trọng ở chỗ bạn cần đảm bảo tính ổn định cho màu sắc đó. Hàng trăm năm qua, chúng ta luôn dễ dàng nhận thấy trên thị trường những biểu tượng màu sắc cố định như màu vàng của chè Lipton, màu đỏ của Coca Cola,…

5) Những màu sắc trực tuyến tương ứng sẽ là gì?

Sau khi xác định bảng phối màu sắc, thách thức tiếp theo của bạn sẽ là đảm bảo một sự mô phỏng tối ưu các màu sắc nhãn hiệu của bạn trên tất cả các phương tiện truyền thông khác nhau. Bạn cần giữ vững sự trung thành với các màu sắc nhãn hiệu đã lựa chọn trong các bản mô phỏng và nhớ rằng chính yếu tố xuyên suốt này đóng vai trò thiết yếu để lôi kéo người tiêu dùng. Một cách khá đơn giản, càng nhiều màu sắc không có nghĩa là càng lôi cuốn hơn. Màu sắc nên tách biệt với nhãn hiệu, và sẽ đóng vai trò khích lệ sự liên tưởng tới nhãn hiệu. Công ty nào lựa chọn cho mình những màu sắc nhãn hiệu một cách chiến lược và sử dụng chúng một cách xuyên suốt chắc chắn sẽ có những tương lai sáng lạn.
Nguồn: lantabrand.com

Thương hiệu: muốn thành công chỉ cần đặt tên ngoại?

Thương hiệu: muốn thành công chỉ cần đặt tên ngoại?


Điều khá thú vị với thương hiệu giày Vascara là ở chỗ, họ nói đã mua nhượng quyền ở Brazil nhưng thông tin thương hiệu này ở thị trường nước ngoài hầu như không tìm thấy.

vascara
Một cửa hàng của “thương hiệu từ Brazil” – Vascara
Công ty sở hữu Vascara là Bình Phạm bán hàng rất khá với cái tên Tây này. Khởi đầu từ năm 2007, chỉ trong vòng 2 năm sau đó doanh thu của thương hiệu này đã tăng từ 6,8 tỉ đồng lên hơn 40 tỉ đồng/năm. Hiện chuỗi cửa hàng giày dép, túi xách thời trang Vascara đã mở rộng lên hơn 20 chi nhánh tại TP. HCM, Hà Nội và một số tỉnh thành lớn.
Không biết thương hiệu này có tồn tại ở Brazil hay không, hay là công ty Việt Nam tự đặt tên đó cho oai? Và nếu có thì ở nước ngoài, thương hiệu này lớn hay nhỏ? Điều đó không quá quan trọng, chỉ cần cái tên Tây là đủ.
Trường hợp của Công ty ICP với dầu gội đầu dành cho nam X-Men là một ví dụ khác cho thấy hiệu quả của việc đặt tên “ngoại” cho sản phẩm tại thị trường Việt Nam.
Thời điểm giữa những năm 2000, khi mà thị trường dầu gội đang bị thống lĩnh bởi bộ đôi Unilever-P&G thì Công ty ICP bất ngờ tung ra dòng sản phẩm dầu gội dành cho nam X-Men và đạt mức doanh thu tăng đột biến.
Có 2 lý do chính cho thành công của họ. Đầu tiên, ICP phát hiện và đánh trúng phân khúc sản phẩm dành riêng cho nam giới khi đó vẫn còn bỏ ngỏ. Kế đến, thiết kế hiện đại của bộ sản phẩm cùng cái tên rất Mỹ là X-Men đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của thị trường, cho dù đây là một sản phẩm nội 100%.
Ông Robert Trần, Tổng Giám đốc khu vực châu Á của Tập đoàn Tư vấn Chiến lược Robenny (Canada), cho rằng chiến lược bàn đạp bằng nhãn mác nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp tham gia vào thị trường dễ hơn nhờ tâm lý sính đồ ngoại của người Việt. Chiến thuật này phù hợp với những đơn vị có sẵn cơ sở vật chất nhưng chưa đủ khả năng tự xây dựng thương hiệu.
Còn theo chuyên gia thương hiệu Đoàn Đình Hoàng, thay vì xây dựng thương hiệu ngay từ đầu mất nhiều thời gian mà tỉ lệ thất bại không nhỏ, các doanh nghiệp nội có thể dùng thương hiệu ngoại làm bàn đạp tiến vào thị trường.
Ngoài ra, ở một số lĩnh vực như thời trang, điện tử… thì những cái tên nước ngoài thường sẽ được khách hàng Việt ưa chuộng và tin dùng hơn, nếu chất lượng tương xứng với giá tiền.
Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất đối với các doanh nghiệp dùng chiêu đặt tên ngoại cho sản phẩm là khi khách hàng phát hiện ra nguồn gốc Việt của thương hiệu và sản phẩm là hàng nội chứ không phải ngoại nhập sẽ dẫn đến tâm lý thất vọng, cảm thấy bị lừa dối và rời bỏ thương hiệu.

CEO - Phân tích những lợi ích Việt Nam có thể thu được từ TPP

Phân tích những lợi ích Việt Nam có thể thu được từ TPP


(i) Nhóm các lợi ích khai thác từ thị trường nước ngoài (các nước đối tác TPP)



Lợi ích ở thị trường các nước đối tác TPP mà Việt Nam có thể tận dụng từ TPP thể hiện ở 2 hình thức chủ yếu:
-    Lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa):
Lợi ích này được suy đoán là sẽ có được khi hàng hóa Việt Nam được tiếp cận các thị trường này với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0. Như vậy lợi ích này chỉ thực tế nếu hàng hóa Việt Nam đang phải chịu mức thuế quan cao ở các thị trường này và thuế quan là vấn đề duy nhất cản trở sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường này.
Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, việc chúng ta có thể tiếp cận các thị trường lớn như Hoa Kỳ với mức thuế suất bằng 0 hoặc thấp như vậy sẽ mang lại một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn và một triển vọng hết sức sáng sủa cho nhiều ngành hàng của chúng ta, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động hoạt động trong các lĩnh vực phục vụ xuất khẩu. Lợi ích này không chỉ dừng lại ở những nhóm mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu (ví dụ như dệt may, giầy dép…), nó còn là động lực để nhiều nhóm mặt hàng khác hiện chưa có kim ngạch đáng kể có điều kiện để gia tăng sức cạnh tranh. Nói một cách khác, lợi thế này không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn được nhìn thấy ở cả tiềm năng trong tương lai.
Tuy nhiên, lợi ích này cần được đánh giá một cách chừng mực hơn, đặc biệt khi quyết định đánh đổi quyền tiếp cận thị trường Việt Nam của hàng hóa nước ngoài để có được những lợi ích này. Cụ thể:
+ Thực tế, cơ hội tăng mạnh xuất khẩu không phải cho tất cả khi mà ví dụ đối với Hoa Kỳ, hàng thủy sản chưa chế biến hay đồ gỗ (hai lĩnh vực xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này) thực tế đã đang được hưởng mức thuế suất gần bằng 0, vì vậy có TPP hay không cũng không quan trọng. Cũng như vậy, dù rằng tương lai không hẳn chắc chắn nhưng một số mặt hàng có thể được Hoa Kỳ xem xét cho hưởng GSP “miễn phí” nếu chúng ta có nỗ lực vận động tốt mà không cần TPP với những cái giá phải trả có thể lớn (bằng việc mở cửa thị trường nội địa cũng như những ràng buộc khác). Đối với các ngành thuộc nhóm này, lợi ích thuế quan là không đáng kể (hoặc không có). Tình trạng tương tự với một số thị trường khác (ví dụ Úc, New Zealand, Peru hiện đã áp dụng mức thuế 0% cho các sản phẩm thủy sản như cá, tôm, cua… của Việt Nam);
+ Đối với những mặt hàng khác, trong khi cơ hội tăng xuất khẩu với giá cạnh tranh là có thật và rất lớn (ví dụ dệt may, da giầy), những rào cản dưới dạng quy định kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ hay kiện phòng vệ thương mại với quy chế nền kinh tế phi thị trường mà Hoa Kỳ thực hiện rất có thể sẽ vô hiệu hóa lợi ích từ việc giảm thuế quan. Cũng như vậy những điều kiện ngặt nghèo về lao động, về xuất xứ nguyên liệu cũng có thể khiến hàng hóa Việt Nam không tận dụng được lợi ích từ việc giảm thuế trong TPP.
Nói một cách khác, những lợi ích về thuế quan trên thị trường nước đối tác TPP (đặc biệt là Hoa Kỳ) chỉ thực sự đầy đủ khi xem xét tất cả các yếu tố. Và nếu bất kỳ yếu tố nào trong số những rào cản đối với hàng xuất khẩu không được cải thiện thì lợi ích thuế quan từ TPP sẽ bị giảm sút, thậm chí nếu những rào cản này bị lạm dụng, lợi ích từ thuế quan có thể bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Phương án đàm phán về thuế quan vì vậy cần phải lưu ý đến tất cả những yếu tố này.
-    Lợi ích tiếp cận thị trường (đối với thương mại dịch vụ và đầu tư)
Về lý thuyết Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi hơn, với ít các rào cản và điều kiện hơn. Tuy vậy trên thực tế dịch vụ của Việt Nam hầu như chưa có đầu tư đáng kể ở nước ngoài do năng lực cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém. Trong tương lai, tình hình này có thể thay đổi đôi chút (với những nỗ lực trong việc xuất khẩu phần mềm, đầu tư viễn thông hay một số lĩnh vực dịch vụ khác) tuy nhiên khả năng này tương đối nhỏ.

Ngoài ra, với hiện trạng mở cửa tương đối rộng về dịch vụ của các đối tác quan trọng trong TPP như hiện nay, lợi ích này có thể không có ý nghĩa (bởi có hay không có TPP thì thị trường dịch vụ của họ cũng đã mở sẵn rồi). Đây cũng chính là lý do nhiều ý kiến cho rằng các nước phát triển sẽ được lợi về dịch vụ trong TPP trong khi những nước như Việt Nam hầu như không hưởng lợi gì từ việc này.


(ii) Nhóm các lợi ích khai thác được tại thị trường nội địa (Việt Nam)
Trong thực thi các FTA, thị trường nội địa thường được hiểu là nơi chịu thiệt hại. Tuy nhiên, đối với trường hợp của Việt Nam, nhiều chuyên gia nhấn mạnh rằng chúng ta có thể “có lời” từ TPP ngay cả ở thị trường nội địa, nơi vốn được xem là “chỉ chịu thiệt” từ các FTA nói chung.
“Khoản lời” này nằm ở những khía cạnh sau đây:
-    Lợi ích từ việc giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nước TPP: Người tiêu dùng và các ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước này làm nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa, nguyên liệu giá rẻ, giúp giảm chi phí sinh hoạt và sản xuất, từ đó có thể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của những ngành này;
-    Lợi ích từ những khoản đầu tư, dịch vụ đến từ Hoa Kỳ và các nước đối tác TPP: Đó là một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, mang lại dịch vụ giá rẻ hơn chất lượng tốt hơn cho người tiêu dùng, những công nghệ và phương thức quản lý mới cho đối tác Việt Nam và một sức ép để cải tổ và để tiến bộ hơn cho các đơn vị dịch vụ nội địa;
-    Lợi ích đến từ những thay đổi thể chế hay cải cách để đáp ứng những đòi hỏi chung của TPP: TPP dự kiến sẽ bao trùm cả những cam kết về những vấn đề xuyên suốt như sự hài hòa giữa các quy định pháp luật, tính cạnh tranh, vấn đề hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuỗi cung ứng, hỗ trợ phát triển… Đây là những lợi ích lâu dài và xuyên suốt các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt có ý nghĩa đối với nhóm doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (doanh nghiệp nhỏ và vừa) và do đó là rất đáng kể;
-    Lợi ích đến từ việc mở cửa thị trường mua sắm công: Mặc dù mức độ mở cửa đối với thị trường mua sắm công trong khuôn khổ TPP chưa được xác định cụ thể nhưng nhiều khả năng các nội dung trong Hiệp định về mua sắm công trong WTO sẽ được áp dụng cho TPP, và nếu điều này là thực tế thì lợi ích mà Việt Nam có được từ điều này sẽ là triển vọng minh bạch hóa thị trường quan trọng này – TPP vì thế có thể là một động lực tốt để giải quyết những bất cập trong các hợp đồng mua sắm công và hoạt động đấu thầu xuất phát từ tình trạng thiếu minh bạch hiện nay;
-    Lợi ích đến từ việc thực thi các tiêu chuẩn về lao động, môi trường: Mặc dù về cơ bản những yêu cầu cao về vấn đề này có thể gây khó khăn cho Việt Nam (đặc biệt là chi phí tổ chức thực hiện của Nhà nước và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp) nhưng xét một cách kỹ lưỡng một số tiêu chuẩn trong đó (ví dụ về môi trường) sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam làm tốt hơn vấn đề bảo vệ môi trường (đặc biệt trong đầu tư từ các nước đối tác TPP) và bảo vệ người lao động nội địa.
Ủy ban tư vấn về CSTMQ

CEO - 3 việc CEO cần phải tự làm khi khởi nghiệp

3 việc CEO cần phải tự làm khi khởi nghiệp

Trong quá trình phát triển doanh nghiệp, những đầu mục công việc của CEO luôn nhận được sự chia sẻ từ những thành viên khác trong nhóm. Tuy nhiên, cũng có những việc không nên ủy quyền cho bất kỳ ai.

1. Gọi vốn

Đây là điều mà CEO không thể nhờ các thành viên khác làm hoặc ủy quyền cho họ. Bởi tâm lý của nhà đầu tư thường muốn liên hệ trực tiếp với nhà sáng lập. Quá trình đầu tư luôn liên quan đến quyền lợi của cả 2 bên, đối với khởi nghiệp là vốn để phát triển còn với nhà đầu tư là cổ phẩn của doanh nghiệp khởi nghiệp (thông thường là 10%).
Do vậy, để chắc chắn rằng tiền của mình có thể tạo ra lợi nhuận, nhà đầu tư phải làm việc trực tiếp với các CEO để nắm được khả năng và tầm nhìn phát triển của họ.
ceo khởi nghiệp
CEO khởi nghiệp cần phải tự làm 3 điều cơ bản nêu trên.

2. Giữ mối quan hệ với nhà đầu tư

Khởi nghiệp không nên nhầm lẫn việc giữ mối quan hệ với nhà đầu tư đồng nghĩa với việc gây vốn. Đây là 2 việc hoàn toàn khác nhau, gọi vốn là hành động thực tế huy động tiền mặt trong khi quan hệ với nhà đầu tư là tất cả những cuộc gặp gỡ, trò chuyện, trao đổi, email với giới đầu tư mà không chỉ giới hạn với nhà đầu tư của mình.
Phát triển doanh nghiệp là chặng đường dài và các CEO cần có chiến lược dài hơi về vốn, việc mở rộng và giữ mối quan hệ mật thiết với các nhà đầu tư khác nhau sẽ tăng uy tín của CEO và hỗ trợ rất nhiều trong quá trình tìm kiếm nhà đầu tư tiếp theo.

3. Xây dựng văn hóa công ty

Văn hóa công ty là tất cả những điều liên quan đến quy trình làm việc, giao tiếp v.v.. của mọi người trong một công ty. Đây là vấn đề quan trọng để tạo nên một doanh nghiệp phát triển. Thông thường, gần như toàn bộ văn hóa công ty tạo ra bởi những người lãnh đạo bởi họ có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong công ty.
Do đó, các CEO khởi nghiệp cần tạo ra những quy trình làm việc hiệu quả và hướng mọi người trong công ty đến những điều tích cực nhất. Dần dần, một văn hóa tích cực sẽ hình thành và tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp.
(Sưu tầm)

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2015

Đại gia ngoại quyết liệt thâu tóm thương hiệu Việt

Xây dựng thành công thương hiệu có thể mất cả chục, thậm chí cả trăm năm nhưng dường như đánh mất nó thì rất nhanh, nhất là khi các ông chủ người Việt chủ quan để bị thâu tóm hoặc đơn giản chỉ là bán giá cao để thu tiền về.

thâu tóm thương hiệu
Đại gia ngoại quyết liệt thâu tóm thương hiệu Việt

Bán thu tiền và chủ quan mất tiền

Trước Ngày Thương hiệu Việt Nam (20/4), thị trường tài chính trong nước khá xôn xao với thông tin một thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam là Phở 24 có thể vĩnh viễn rơi vào tay của các đại gia nước ngoài.
Thông tin được tung ra ngày 18/4 cho biết, Highlands Coffee mua 100% cổ phần của Phở 24, trong khi chính Highlands Coffee lại bán 50% cho Jollibee. Thông tin giá cả mua bán và các chi tiết khác không được công khai và ông chủ Phở 24 Lý Quí Trung cũng không hề lên tiếng về vụ M&A này.
Mặc dù vậy, trong giới đầu tư tài chính, những lời đồn đại cho biết, giá cho giao dịch nói trên là hơn 20 triệu USD và đây là một bước trong lộ trình thâu tóm toàn bộ Highlands lẫn Phở 24 của Jollibee – một tập đoàn bán lẻ Philippines.
Phở 24 là một thương hiệu rất nổi tiếng của Việt Nam trong thời kỳ đầu. Cho dù được xây dựng và phát triển mới từ năm 2003 nhưng Phở 24 đã nhanh chóng được biết đến với chất lượng dịch vụ, sản phẩm tốt và có bản sắc rất riêng biệt.
Trong hai ba năm gần đây, thương hiệu Phở 24 có dấu hiệu dịch vụ sa sút và chất lượng không được đảm bảo tốt đồng nhất trong hệ thống giống như trước đó. Sự đi xuống về hình ảnh của Phở 24 có thể cảm nhận được khá rõ nét. Không còn nhiều người nhắc tới thương hiệu này như là một lựa chọn hàng đầu.
Với một vị thế như vậy, quyết định bán lại là khá dễ hiểu và nếu giá thực sự là 20 triệu USD thì có thể nói là khá hậu hĩnh.
Tuy nhiên, xét ở khía cạnh người đi mua, có lẽ họ cũng đã cân nhắc rất kỹ và dường như vụ mua Phở 24 thông qua Highlands Coffee của Jollibee là để khai thác thương hiệu này cho toàn bộ chuỗi bán lẻ của tập đoàn này ở Philippines, cũng như khai thác trên các thị trường khác trên thế giới.
Việc đồn đoán Jollibee mới đích thị là người đi thâu tóm Phở 24 lan rộng sau khi Highlands Coffee bất ngờ mua 100% cổ phần của Phở 24, trong khi chính Highlands Coffee lại bán 50% cho Jollibee. Nhưng trên thực tế, với việc nắm giữ quyền chi phối như vậy, việc Jollibee là ông chủ mới của thương hiệu Việt Phở 24 không còn gì nhiều để bàn cãi.
Gần đây nhất, vụ tên miền tiếng Anh của café Chồn của Trung Nguyên bị cá nhân khác đăng kí và nhúng nội dung quảng bá cho thương hiệu café sắp vào Việt Nam là Starbucks và một chuỗi lịch sử mất tên miền thương hiệu ở nhiều quốc gia khác cũng cho thấy phần nào sự chủ quan của các doanh nghiệp Việt đối với vấn đề thương hiệu.
Trên thực tế, Trung Nguyên Café là một thương hiệu mạnh cả ở trong nước và quốc tế. Thương hiệu café chồn được rất nhiều biết đến với tên gọi Weasel Coffee với phiên bản đặc biệt là Legendee.
Mặc dù vậy, dường như Trung Nguyên không kiểm soát được hoặc quá chủ quan với việc bảo vệ những tên miền liên quan đến những sản phẩm đặc biệt này.
Vụ việc một cá nhân bất ngờ mua tên miền Legendeecoffee.com và quảng bá cho café Starbucks – một thương hiệu café nổi tiếng sắp vào Việt Nam và việc Trung Nguyên mua Legendee.com nhưng lại không mua Legendee.com.vn và Legendee.vn cho thấy doanh nghiệp này có vẻ như không đánh giá cao về thương mại điện tử và tầm quan trọng của việc bảo vệ các tên miền thương hiệu như vậy.
Có thể thấy, việc gây dựng thương hiệu là không hề dễ dàng. Những người chủ doanh nghiệp có thể phải bỏ ra rất nhiều tiền và mất rất nhiều thời gian để có thể có được một thương hiệu nổi tiếng nhưng trên thực tế đó cũng là một miếng mồi rất ngon mà nhiều người nhòm ngó.

Đến bị thâu tóm

Thực tế trên thị trường tài chính trong vài năm gần đây cho thấy, rất nhiều thương hiệu Việt có lịch sử phát triển vài chục cho tới cả trăm năm đã bị các đại gia nước ngoài đã và đang thâu tóm. Sự chủ quan và cách thức chống trả của những người trong cuộc khá yếu ớt đang khiến nhiều thương hiệu dần mất dạng trên thị trường.
Trở lại trường hợp Bibica, đây là thương hiệu bánh kẹo hàng đầu của Việt Nam và đang có nguy cơ vĩnh viễn biến mất và rơi vào tay đại gia bán lẻ Lotte – Hàn Quốc.
Mặc dù tới thời điểm này vụ thâu tóm chưa tới hồi kết, cái tên Bibica vẫn được giữ lại nhưng tương quan lực lượng đang nghiên hẳn về phía “đối tác” ngoại. Sau 5 năm thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua đối tác Bibica, đến nay Lotte đã nắm giữ được gần 40% cổ phần thương hiệu bánh kẹo đang có thị phần đứng thứ hai tại thị trường nội địa. Hiện tại, ngoài việc sản xuất những nhãn hiệu bánh kẹo truyền thống, Bibica đang phát triển khá mạnh một nhãn hiệu thuần túy có lợi cho Lotte – bánh Lottepie.
Việc biến mất một cái tên Bibica không còn phải là cảnh báo nữa mà là nguy cơ hiển hiện trước mắt.
Không giống như Bibica bị thâu tóm thông qua hợp đồng hợp tác mua cổ phần ban đầu và bị mua gom cổ phiếu lúc TTCK lao dốc, trường hợp của TCty CP Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) lại khác hẳn.
Sabeco chưa bán cổ phần cho đối tác nước ngoài nhưng lại đứng trước nguy cơ bị thâu tóm một cách rất lạ thường bởi đối tác “độc quyền bán hàng, phân phối sản phẩm và marketing” của mình.
Sự việc bắt đầu từ một hợp đồng mà SATRACO – Công ty con của SABECO, được độc quyền bán, marketing, phân phối toàn bộ các sản phẩm do tổng công ty sản xuất) ký kết hồi cuối năm 2009 với đối tác là Công ty Saigon Beer Alcohol Beverage Coporation (Singapore).
Theo đó, Sabeco Asia Pacific được độc quyền bán hàng, phân phối và marketing 4 sản phẩm chính của Sabeco tại 20 nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Sự việc sẽ không có gì phải bàn nếu không chú ý đến thương hiệu của đối tác. Vì Sabeco Asia Pacific được làm độc quyền phân phối, tiêu thụ và cả marketing những sản phẩm nổi tiếng của Sabeco nên những quốc gia tiêu thụ các sản phẩm bia Sài Gòn qua nhà phân phối độc quyền Sabeco Asia Pacific đều có thể nghĩ rằng công ty có trụ sở tại Singapore này chính là chủ sở hữu thương hiệu Sabeco!
Và điều đáng lo ngại là, một khi Sabeco Asia Pacific đăng ký bảo hộ độc quyền thương hiệu trên toàn thế giới thì Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn sử dụng thương hiệu Sabeco sẽ là… phạm pháp!
Hơn thế, con dấu dùng để giao dịch của công ty này sử dụng chữ cũng như hình ảnh giống gần như y hệt hình ảnh thương hiệu của Sabeco, chỉ có điểm khác nhau một chút là chữ Sabeco trong hình ảnh thương hiệu của Sabeco nằm ở trên, hình con rồng nằm ở dưới.
Sự việc sau đó đã được báo cáo lên Bộ Công Thương để xin ý kiến chỉ đạo xử lý vụ việc. Tuy nhiên, tới nay vụ việc dường như đã rơi vào quên lãng và cách đây khoảng hơn 1 tháng giới tài chính lại chỉ xôn xao lên sau khi có thông tin tỷ lệ nắm giữ của Bộ Công thương tại Sabeco trong giấy đăng ký kinh doanh mới nhất bất ngờ giảm từ 89,59% xuống chỉ còn 51%.
Một câu hỏi là ai đã bỏ ra khoảng 17.000 tỷ đồng để sở hữu 40% cổ phần Sabeco. Sự việc trên đang rấy lên lo ngại về khả năng thương hiệu Sabeco có thể bị thâu tóm bởi đối tác nước ngoài.
Trước đó, năm 2002, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam cũng đã phải đối mặt với nguy cơ mất thương hiệu Vinataba khi thương hiệu này bị Công ty Sumatra (trụ sở chính tại Indonesia) đánh cắp tại Lào và Campuchia. Do đã đăng ký thương hiệu, Vinataba chứng minh được quyền sở hữu của mình, được Chính phủ Lào công nhận là DN chủ sở hữu thương hiệu Vinataba. Công ty Sumatra buộc phải hủy bỏ các sản phẩm mang thương hiệu Vinataba.
(Vef)

Làm thương mại điện tử Việt Nam – những khó khăn hiện hữu?

“Những ai đang hi vọng làm TMĐT sẽ thu lời được ngay thì tốt nhất đừng dấn thân vào TMĐT làm gì” – ông Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Khối TMĐT VCCorp.

Thị trường Thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam vẫn chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, do đó khó tránh khỏi những khó khăn và tồn tại gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp làm trong ngành. Để hiểu rõ hơn những khó khăn này của TMĐT Việt Nam, CafeBiz xin trích đăng nội dung bài viết trên trang Facebook cá nhân của ông Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Khối Thương mại Điện tử VCCorp để bạn đọc tham khảo.
khó khăn khi làm TMDT ở Việt Nam
Tại Việt Nam, TMĐT mới bắt đầu nhen nhóm nên tất yếu sẽ gặp khó khăn. Có cả khó khăn nằm trong tầm kiểm soát và ngoài tầm kiểm soát, đến từ bên trong lẫn bên ngoài, từ chủ quan đến khách quan. Để khái quát hoá, người viết chia làm 2 dạng: khó khăn khách quan và khó khăn chủ quan.

I. Khó khăn khách quan

1. Thị phần nhỏ bé
Ở bài đầu tiên Thị phần và các loại hình thương mại điện tử tại Việt Nam, tôi đã nêu chi tiết rằng hiện nay chỉ mới được khoảng hơn 2 triệu khách hàng mua hàng qua TMĐT – con số quá bé so với hơn 35 triệu người dùng Internet và dân số 90 triệu người dân Việt Nam.
Nếu xét về doanh số, tại Việt Nam rất khó thống kê chính xác nhưng ước tính đạt khoảng gần $500 triệu trong năm 2012 (có một số báo cáo và phát biểu nói rằng doanh số 2 tỷ đô, con số này theo tôi là không đáng tin cậy). Đem so với các cường quốc về TMĐT trên thế giới như Mỹ (343 tỷ), Nhật (127 tỷ), Anh (124 tỷ) và Trung Quốc (110 tỷ) thì thị trường TMĐT thật quá nhỏ bé.
Chính vì thị phần bé như vậy, nên khi triển khai mô hình TMĐT cụ thể, việc lựa chọn đối tượng khách hàng khá khó khăn và phải rất thận trọng để đưa ra mô hình phục vụ phù hợp với phân khúc khách hàng mình lựa chọn.
Khi triển khai mô hình TMĐT cụ thể, việc lựa chọn đối tượng khách hàng khá khó khăn và phải rất thận trọng để đưa ra mô hình phục vụ phù hợp.
2. Thói quen mua hàng
Vẫn tâm lý ra cửa hàng tạp hoá đầu ngõ để mua những đồ dùng thiết yếu hay ra các cửa hàng offline để mua sắm các đồ dùng, đồ thời trang và đồ công nghệ.
 – Thói quen thích nhìn tận mắt, sờ tận tay
 – Thói quen thanh toán bằng tiền mặt
thương mại điện tử Việt Nam
3. Niềm tin
Người tiêu dùng tại Việt Nam vẫn chưa đặt niềm tin vào mua sắm trực tuyến, họ vẫn có cái nhìn thiếu thiện cảm với các hình thức kinh doanh trên mạng. Thực tế, có rất nhiều khách hàng phản ánh rằng sản phẩm họ nhận được khác xa với những gì họ nhìn thấy trên website, do vậy niềm tin vào TMĐT cũng bị lung lay.
Nguyên nhân của thực trạng này là do TMĐT đang bị lạm dụng, bóp méo bởi sự làm ăn thiếu chuyên nghiệp của các đơn vị cung cấp sản phẩm. Điển hình như vụ việc MB24 đã lợi dụng danh nghĩa TMĐT để phục vụ lợi ích riêng cho mình khiến cho khách hàng hiểu sai về TMĐT.
Một số khác thì dùng kênh TMĐT để phân phối hàng giả, hàng nhái kém chất lượng nhằm qua mắt người tiêu dùng – một cách làm ăn rất chụp giựt.
4. Hạ tầng thanh toán
 – Thanh toán qua thẻ còn ít
 – Các bước thanh toán qua internet banking rắc rối và không nhất quán giữa các ngân hàng
 – Thẻ chủ yếu dùng để nhận lương và rút tiền tại ATM
 – Chi phí giao dịch cao
 – Hình thức thanh toán chưa đa dạng
 – Cơ chế hoàn tiền còn chậm và chưa rõ ràng
 – Hành lang pháp lý còn lỏng lẻo
5. Dịch vụ giao nhận
 – Chưa có đơn vị thứ 3 thực sự chuyên nghiệp để đảm bảo tốt dịch vụ giao nhận mà không ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ, hầu hết các đơn vị làm TMĐT đều phải tự xây dựng đội ngũ giao nhận để nắm quyền chủ động trong việc kiểm soát và điều phối hiệu quả cũng như chất lượng phục vụ khách hàng.
 – Do đặc thù địa lý Việt Nam trải dài, mặt khác volume thị trường còn bé đồng thời việc tự tổ chức đội ngũ giao nhận khiến cho chi phí giao nhận rất cao, chiếm từ 10-15% giá trị của 1 giao dịch.
6. Vốn đầu tư
Đầu tư vào TMĐT là dài hạn và đốt tiền, thậm chí đốt rất nhiều tiền. Chi phí cho nhân sự, marketing, stock hàng là những chi phí rất lớn. Nếu không có khoản đầu tư lớn thì chỉ đi được nửa đường là chết, khi mà lợi nhuận chưa thể bù đắp cho khoản tiền đầu tư để educate thị trường, để làm brand và hoàn thiện quy trình.
Do vậy bạn nào đang hi vọng làm TMĐT sẽ thu lời được ngay thì tốt nhất đừng dấn thân vào TMĐT làm gì. Theo nguồn tin cá nhân thì tất cả các đơn vị đang đầu tư cho TMĐT tại Việt Nam thì chưa có đơn vị nào có lãi (trừ một số dự án vertical e-commerce), mà ngược lại số tiền đầu tư đã lên đến hàng triệu đô.
làm thương mại điện tử ở Việt Nam

II. Khó khăn chủ quan

1. Khó khăn chung
Xét một cách toàn diện thì các đơn vị làm TMĐT vẫn đang ở tâm lý vừa làm vừa thăm dò thị trường và tìm cách phản ứng để phù hợp với tâm lý người tiêu dùng. Do vậy việc triển khai khó có thể diễn ra bài bản ngày từ đầu và xuyên suốt trong quá trình hoạt động.
Mặt khác, rất nhiều đơn vị làm TMĐT vẫn chưa hiểu rõ thấu đáo sự khác biệt của TMĐT với bán hàng offline truyền thống, vẫn bê nguyên tư duy vận hành offline lên online, dẫn đến sự phản ứng chậm chạp, thiếu chuyên nghiệp và không phát huy hết lợi thế của online, chưa đánh trúng tâm lý của người tiêu dùng online.
Người tiêu dùng online có những hành vi và tâm lý mua hàng khác với người tiêu dùng offline. Người làm TMĐT cần hiểu rõ tâm lý đối tượng khách hàng của mình để có thể đưa ra những phương thức phục vụ phù hợp.
khó khăn khi làm TMDT ở Việt Nam
2. Khó khăn của từng mô hình
a. Mô hình sàn giao dịch
 – Người dùng thường tìm đến các website có nhiều tin để đọc, và ngược lại người bán cũng tìm đến website có nhiều người đọc để đăng tin rao. Do đó, khi thiết lập mới một sàn giao dịch TMĐT, cần phải có được ngay lượng thông tin phong phú để thu hút người đọc, đặc biệt việc làm SEO sẽ giúp cho website có được nguồn traffic tự nhiên cực lớn
 – Giao dịch trên các sàn giao dịch hầu như không có, mà đó chỉ là nơi người bán và người mua gặp nhau, sau đó tự liên lạc và thoả thuận hình thức bán hàng và thanh toán. Vì thế độ tin cậy sẽ không cao.
 – Bài toán kiếm tiền từ mô hình này khá đơn giản, khiến cho việc muốn tăng mạnh doanh số rất khó khăn. Các mô hình tiêu biểu bao gồm: bán banner quảng cáo, bán tin VIP, bán lượt hiển thị các trang đầu
b. Mô hình website bán lẻ
– Khó khăn lớn nhất của mô hình này là kiểm soát hàng tồn kho. Để hàng tồn kho quá lâu và không có sự kiểm soát chặt chẽ và thường xuyên thì tất cả những khoản lãi thu được đều không đủ để bù lỗ cho chi phí hàng tồn kho
– Khó khăn thứ 2 là tạo được sự tin cậy và minh bạch về thông tin hàng hoá, giá cả, để cho tỷ lệ chuyển đổi (CR) phải luôn ở mức cao nhất nhằm tiết kiệm chi phí marketing, nâng cao hiệu quả bán hàng. Theo kinh nghiệm của tôi thì các website TMĐT phải đảm bảo tỷ lệ chuyển đổi ở mức tối thiểu 1% (CR=1%), có nghĩa là 100 người truy cập vào website của bạn thì ít nhất phải có 1 người mua hàng. Nhưng thực tế rất ít đơn vị đầu tư cho việc tracking hiệu quả và liên tục cải tiến để tăng CR.
– Khó khăn thứ 3 là đảm bảo chất lượng dịch vụ logistic từ khâu giao hàng, hỗ trợ sau bán, bảo hành, đổi trả hàng hoá đều phải chính xác, thân thiện và nhanh chóng. Mỗi nhân viên giao hàng, nhân viên CSKH đều phải là đại sứ bán hàng của công ty.
– Khó khăn thứ 4 là về margin, nếu bạn bán được nhiều thì các nhà phân phối mới chiết khấu cao cho bạn, nếu không thì % chiết khấu sẽ thấp và khó cạnh tranh về giá với đối thủ và thị trường offline. Ngược lại, nếu bạn để giá cao thì khó bán hàng, dẫn đến sản lượng thấp. Do vậy bạn cần cân đối thật chắc chắn về chính sách giá cũng như doanh số bán hàng.
– Khó khăn thứ 5 là cá lớn nuốt cá bé. Các ông lớn sẵn sàng vung tiền để phủ thị trường, để đạt quy mô và được giá tốt, lúc này việc cạnh tranh giữa các đơn vị quy mô nhỏ sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
c. Mô hình website khuyến mãi, giảm giá
Ở mô hình này thì ngoài khó khăn như mô hình website bán lẻ, nó còn có khó khăn rất lớn đó là làm việc và thuyết phục nhà cung cấp đồng ý giảm giá ở mức đủ để hấp dẫn khách hàng mà nhà cung cấp không được lỗ hoặc chỉ lỗ ít để mang lại nguồn thu cũng như khách hàng mới cho họ.
Khách hàng của mô hình này thông thường kém trung thành, nên việc giữ chân khách hàng là điều rất khó. Do vậy cần có những quyết định trong chiến lược để khai thác lợi nhuận ngắn hạn từ những khách hàng có được, tránh việc đầu tư dài hạn để lấy user với hi vọng sau đó sẽ khai thác từ tập khách hàng đó.
website khuyến mại
d. Mô hình website đấu giá trực tuyến
Rõ ràng rằng tại Việt Nam, mô hình này đang gặp rào cản rất lớn đó là thiếu niềm tin. Tôi không tin là tôi đấu giá có thể trúng với giá rẻ, tôi không tin các nhà cung cấp sẵn sàng cho đi sản phẩm của mình chỉ nhằm mục đích quảng bá… có hàng vạn lý do để người tham gia không tin vào hình thức này.
Để làm mô hình này thành công, trước hết website đấu giá phải đảm bảo mọi yếu tố đều minh bạch và show được nó cho khách hàng thấy để họ khỏi nghi ngờ chân gỗ hay sự thiếu trung thực.
e. Mô hình localize e-commerce và dịch vụ
– Về localize e-commerce, sự mở rộng thị trường rất khó khăn và chậm do yếu tố địa phương hoá. Mặt khác, yếu tố chất lượng dịch vụ được đặt lên hàng đầu. Do vậy áp lực về chất lượng dịch vụ rất lớn, đòi hỏi người làm mô hình này phải kiểm soát tốt, song song với đó là chi phí đầu tư cho dịch vụ phải cao thì mới đảm bảo được chất lượng theo yêu cầu. Ví dụ về mô hình gọi món online, nếu sau 30-45 phút mà không giao được đồ ăn cho khách thì khách sẵn sàng huỷ order ngay lập tức.
– Về các website dịch vụ như đặt bàn, đặt chỗ, đặt phòng khách sạn,… thì khó kiểm soát được chất lượng của nhà cung cấp. Bởi lẽ mô hình này chỉ là yếu tố trung gian kết nối khách hàng với merchant. Nếu merchant không làm hài lòng khách hàng thì sẽ khó chiêu dụ khách hàng quay lại sử dụng tiếp dịch vụ của website. Do vậy cần kết hợp với các merchant để cùng kiểm soát chất lượng dịch vụ của merchant.

III. Kết luận

Để triển khai TMĐT thành công, bạn phải hiểu rất rõ về những gì bạn đang có và hiểu rõ về ngành hàng cũng như phân khúc khách hàng bạn đang nhắm tới, nhằm phát triển và chiếm tối đa thị phần trong mảng mình kinh doanh.
Chất lượng dịch vụ và kiểm soát tồn kho, thất thoát là hai khó khăn lớn nhất trong việc triển khai TMĐT nhưng nó lại là yếu tố sống còn để quyết định mô hình TMĐT của bạn có thành công hay không.
Nguyễn Văn Tuấn
Giám đốc Khối Thương mại điện tử – VCCorp
Theo Trí Thức Trẻ